CHƯƠNG I.1 Mục đích nghiên cứu - Téi ưu hóa qúa trình biến tinh tinh bột khoai lang tím và khoai mỡ nhằm tạo ra loại tỉnh bột có hàm lượng RS cao nhất. -_ Xác định tính chất lý-hóa của tinh bột trước và sau khi biến tính nhằm mô tả đặc tính của RS cũng như bổ sung, củng cố cho việc giải thích cơ chế hình thành tỉnh bột RS.2 Tính cấp thiết của đề tài Theo dữ liệu thống kê năm 2001-2002 (Haley và cộng sự, 2002) tỉ lệ trẻ em và người lớn béo phì đã trở thành vấn đề về sức khỏe chính trong cộng đồng tại Mỹ. Ở độ tuổi vị thành niên khoảng 20 tuổi trở lên thì 65% trường hợp bị béo phì, đối với trẻ em từ độ tuổi 6 đến 19 thì khoảng 31 % có nguy bị quá trọng. Tại Việt Nam, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, con số người béo phì cũng gia tăng.
Ngoài vấn đề béo phì thì bệnh tiêu đường gây ra do rối loạn chức năng tiết insulin biến đổi glucose khi vào cơ thể cũng trở thành một căn bệnh phổ biến. Vấn đề này đặt ra việc xem xét lại khẩu phần ăn hằng ngày nhằm tránh nguy cơ của bệnh béo phì và phòng ngừa những biến chứng của bệnh tiêu đường. Một trong những nguyên nhân gây ra các dạng bệnh này mà liên quan đến khẩu phần ăn đó chính là hàm lượng tỉnh bột quá cao trong các loại thức ăn. Chúng ta đều biết rằng tỉnh bột là nguồn sinh năng lượng lớn nhất cũng như nhanh chóng nhất khi được đưa vào cơ thé, đồng thời nó cũng là nguồn glucose déi dao trong đối với cơ thể.
Trong khi đó, với những tính chất lý hóa đặc trưng, tinh bột được ứng dụng rất nhiều trong công nghệ thực phâm. Để giải quyết những vấn đề này, người ta thay thế tỉnh bột bằng thực phẩm nguyên cám, giàu chất xơ. Tuy nhiên, nhược điểm của việc bố sung chat xơ là làm giảm cấu trúc và chất lượng cảm quan của thực phâm. Do đó, những phát hiện mới về tinh bột không thủy phân (RS) có tính chất chức năng như chất xơ nhưng không làm giảm chất lượng thực phẩm đang được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu, mở ra một triển vọng mới trong lĩnh vực thực phâm chức năng.
Rất nhiều nghiên cứu về Nguyễn Kim Khánh 1 GVHD: TS. Phạm Văn Hùng Nghiên cứu biến tính tỉnh bột khoai lang và khoai mỡ bằng phương pháp nhiệt ẩm kha năng tạo RS từ các loại tinh bột khoai lang, khoai tây, lúa mỳ, ngô, .được thực hiện và kết quả thu nhận được hết sức khả quan. Trong các nghiên cứu này, RS được cho là có khả năng đảm nhiệm vai trò của chất xơ trong hoạt động hồ trợ hệ tiêu hóa, đóng vai trò như một prebiotic, chất giảm ung thư hệ đường ruột, đồng thời có thể kiềm hãm sự tăng đường huyết trong máu sau khi tiêu thụ tỉnh bột. Tại Việt Nam, nguồn tinh bột từ nguyên liệu rất đa dạng, ngoài tỉnh bột san, gạo,.
được dùng rộng rãi thì nguồn khoai lang và khoai mỡ với trữ lượng dỗi dào cũng là tiềm năng cho ngành công nghệ thực phẩm. Tuy nhiên lại chưa có nghiên cứu nào về điều kiện biến tính và khả nang tao RS cua tinh bột khoai lang tím và tỉnh bột khoai mỡ. Do đó đề tài này là cần thiết để tạo ra các sản phẩm tinh bột có hàm lượng RŠ cao từ tinh bột khoai lang và tinh bột khoai mỡ nhằm sản xuất các sản phâm thực phẩm có khả năng phòng chống các bệnh tiểu đường và béo phì. Nguyễn Kim Khánh 2 GVHD: TS.
Phạm Văn Hùng Nghiên cứu biến tính tỉnh bột khoai lang và khoai mỡ bằng phương pháp nhiệt ẩm CHƯƠNG II: TONG QUAN 2. TONG QUAN VE TINH BOT VA TINH BOT KHONG THUY PHAN 2.1 Cấu trúc của tỉnh bột Tinh bột là một polysaccharide có hai thành phần cấu trúc chính là amylose và amylopectin. Các đơn vị cấu trúc và sự sắp xếp của các chuỗi xoắn kép (mặt cắt ngang) trong cầu trúc amylose loại A và amylose loại B. Amylose, chiếm 15 - 20% tỉnh bột, là một polymer mạch thẳng, ít phân nhánh, có chứa các đơn vị cấu tạo là glucose liên kết ơ -D-(1-4), mức độ polyme hóa (DP) có thê lên đến 6000 và khối lượng phân tử vào khoảng 105 — 106 g/mol.
Với chiều dài mạch như thế, các amylose dễ dàng tạo thành cấu trúc sợi xoắn đơn hoặc xoắn kép. Các nghiên cứu bằng phương pháp nhiễu xạ tia X cho thấy tinh bột có cầu trúc tinh thé dạng A, B, C (hỗn hợp giữa A và B) và cấu trúc tinh thể dạng V (trong các hạt đã trương nở). Tham gia vào thành phần cấu tạo trong cấu trúc tỉnh thể dạng B là chuỗi xoắn kép amylose với hai sợi ngược chiều, sắp xếp cạnh nhau theo hình lục giác, vùng trung tâm của hình lục giác chứa đầy nước (36 phân tử H;O/lđơn vị cấu trúc). Câu trúc tỉnh thể dạng A tương tự như cấu trúc dạng B nhưng tâm của hình lục giác được thay bằng chuỗi xoắn kép khác tạo thành cấu trúc chặt chẽ hơn với 8 phân tử nước nằm xen kẽ các chuỗi xoắn kép (hình 2.
Còn amylopectin là đại phân tử với cầu trúc phân nhánh nhờ vào liên kết œ -D-(1-4) và ơ -D-(1-6) của glucose. Mức độ polyme hóa (DP) của amylopectin có thể lên đến 2 Nguyễn Kim Khánh 3 GVHD: TS. Phạm Văn Hùng Nghiên cứu biến tính tỉnh bột khoai lang và khoai mỡ bằng phương pháp nhiệt ẩm triệu phân tử glucose, điều này khiến cho chúng trở thành một trong những phân tử lớn nhất trong tự nhiên. Chiều dài mạch nhánh đa phần là vào khoảng 20 — 25 đơn vị glucose.
Cấu trúc cua amylopectin thường được mô tả với dạng chùm. Hizukuri và cộng sự (1981) cho rằng cấu trúc chùm này có thê ở dạng đơn chùm hoặc nhiều chùm gắn kết với nhau (hình 2. Các mạch ngắn A với DP khoảng 16-20 đơn vị glucose có thé tạo thành cấu trúc xoắn kép xếp trong cấu trúc chùm. Các chùm này có khoảng 80-90% chuỗi mạch ngắn này và chúng được liên kết lại với nhau bởi các chuỗi mạch B đài hơn chiếm 10- 20%.
Dựa trên các thí nghiệm nhiễu xạ tia X, tinh bột được cho rằng có tính chất bán kết tỉnh với phần lớn là các phân tử glucan định hướng. Khoảng 70% khối lượng Hình 2. Mô hình amylopectin, B. Cấu trúc vùng vô hạt tỉnh bột tham gia câu định hình và vùng kết tỉnh trong cấu tao hat tinh bét,C.
trúc vô định hình và 30% Cách thức sắp xếp, định hướng của amylopectin trong lát cắt ngang của hạt tỉnh bột, D. Kết cấu chuỗi xoắn kép (www. Phần vô định hình còn lại tham gia vào phần có chứa chủ yếu là amylose và một ít amylopectin, trong khi đó phần kết tinh chỉ chứa amylopectin.2 Khả năng bị thủy phân của tỉnh bột bởi enzyme amylase Ở trạng thái tự nhiên phần lớn tỉnh bột bị thủy phân bởi các enzyme amylase sau khi đã hồ hóa tinh bột. Tuy nhiên qua nghiên cứu về khả năng thủy phân tỉnh Nguyễn Kim Khánh 4 GVHD: TS.
Phạm Văn Hùng Nghiên cứu biến tính tỉnh bột khoai lang và khoai mỡ bằng phương pháp nhiệt ẩm bột của các enzyme amylase, Englyst và cộng sự (1992) nhận thấy các loại tinh bột khác nhau có mức độ thủy phân khác nhau và được phân loại thành ba dạng sau: Tĩnh bột thủy phan nhanh (Rapidly Digestible Starch — RDS). Nhóm tỉnh bột này bao gồm chủ yếu là tinh bột vô định hình và tinh bột phân tán được tìm thay trong các loại thực phẩm giàu tinh bột. Để xác định hàm lượng tinh bột này bằng phương pháp hóa học, người ta đo hàm lượng glucose được tạo thành trong quá trình phân giải bởi enzyme tiêu hóa sau 20 phút. Tinh bột thủy phân chậm (Slowly Digestible Starch —- SDS).
Nhóm này bao gồm tỉnh bột vô định hình khó bị tác động vật lý, tỉnh bột sống với cau tric tinh bột nhóm A và C. Hàm lượng tinh bột này được xác định thông qua hàm lượng glucose được tạo thành trong quá trình phân giải bởi enzyme tiêu hóa sau 120 phút. Tĩnh bột không thủy phan (Resistant Starch —- RS). Thuật ngữ resistant starch được nhắc đến đầu tiên bởi Englyst và cộng sự (1992) để mô tả những cấu tử tinh bột kháng lại sự thủy phân của các nhóm enzyme amylase và pullulanase trong các thí nghiệm in vitro.
RS 1a tinh bột không bị thủy phân sau 120 phút xử lý với hệ enzyme amylase tuyến tụy (Englyst và cộng sự, 1992). Tuy nhiên, vì tỉnh bột khi đến ruột già có thé bị lên men ít hoặc nhiều bởi hệ vi sinh vật đường ruột, do đó, RS ngày nay được định nghĩa là cấu tử tỉnh bột thực đưỡng không bị tiêu hóa ở ruột non. Công thức tính RS như sau: RS = TS — (RDS + SDS) 2.3 Phân loại tỉnh bột không bị thủy phân Tinh bột không bị thủy phân (Resistant starch, viết tắt là RS) là tinh bột không bị thủy phân bởi hệ enzyme amylase trong co thê và không được hấp thu ở ruột non ma di xuống ruột già và được hệ vi sinh vật ở ruột già lên men để tạo thành các acid béo mạch ngắn như acetic acid, butyric acid và propionic acid. Tinh bột RS được chia làm 4 nhóm: RS1, RS2, RS3 va RS4.
RS1 không bị thủy phân là do nó nằm trong các cấu trúc hạt không bị tác động bởi tác nhân vật lý. RS1 nằm trong các loại ngũ cốc dạng nguyên hạt hoặc đã được xay vỡ. Nguyên nhân không bị thủy phân của tính bột RŠ1 là do các hạt tinh bột Nguyễn Kim Khánh 5 GVHD: TS. Phạm Văn Hùng Nghiên cứu biến tính tỉnh bột khoai lang và khoai mỡ bằng phương pháp nhiệt ẩm được bảo vệ bởi các lớp thành tế bào thực vật hay do cấu trúc thực phâm dày đặc ngăn không cho các enzyme amylase xâm nhập vào bên trong tiếp xúc với cơ chất tinh bột (hình 2.
Cấu trúc RS1 Hình 2. Cấu trúcRS2 — Hình 2. Câu trúc RŠ3 RS2 là các tỉnh bột tự nhiên có cấu trúc dạng hạt nhất định và không bị thủy phân bởi enzyme. Trong cấu trúc hạt tinh bột thì tỉnh bột được bao gói trong một cấu trúc các vòng tròn đồng tâm và tách nước tương đối.
Cấu trúc chắc chắn này giới hạn sự xâm nhập của enzyme tiêu hóa dẫn đến tính khó thủy phân mang bản chất tự nhiên của tỉnh bột như tinh bột chuối, tỉnh bột khoai tây. RSI và RS2 được tiêu hóa chậm hoặc tiêu hóa không hoàn toàn trong ruột non (hình 2. RS3 là loại tinh bột khó thủy phân nhất và chủ yếu là do amylose thoái hóa được hình thành trong suốt quá trình làm lạnh các cấu trúc gel tinh bột.