MỞ ĐẦU Việt Nam từ lâu đã đƣợc xem là một “điểm nóng” về đa dạng sinh học quan trọng trên trái đất (Myers et al. Các nghiên cứu trƣớc đây đã chỉ ra rằng mức độ đa dạng và đặc hữu cao của khu hệ động, thực vật Việt Nam bắt nguồn từ sự đa dạng về địa hình, tiểu vùng khí hậu, các hệ sinh thái đã tạo lên sƣ đa dạng về sinh cảnh sống, cũng nhƣ quá trình giao lƣu của các loài giữa các vùng lân cận ở Đông Nam Á trong suốt lịch sử phát triển địa sinh vật lâu dài và phức tạp của khu vực (Sterling et al., 2006; Đặng Ngọc Cần và cs. Số lƣợng các loài thú mới cho khoa học đƣợc phát hiện, ghi nhận mới và phân bố mới ở Việt Nam liên tục tăng theo thời gian. Danh lục thú của Đặng Huy Huỳnh và cs.
(1994) đã ghi nhận 223 loài thuộc 12 bộ, 37 họ. Lê Vũ Khôi (2000) đã thống kê 289 loài và phân loài thuộc 14 bộ, 40 họ. Danh lục thú gần đây của Đặng Ngọc Cần và cs. Trong giáo trình “Phân loại học lớp Thú (Mammalia) và đặc điểm khu hệ thú hoang dã Việt Nam” Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) đã đƣa ra danh sách thú gồm 322 loài thuộc 15 bộ.
Chỉ tính riêng nhóm Thú ăn sâu bọ (Eulipotyphla), số lƣợng loài liên tục tăng từ 14 loài (Đặng Huy Huỳnh và cs. 1994) lên 22 loài (Đặng Ngọc Cần và cs., 2008), 24 loài (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009), 32 loài theo Abramov et al. Các kết quả công bố gần đây nhất với việc ghi nhận hai loài mới cho khoa học là Chuột chũi or-lov E. orlovi và Chuột chũi kuz-net-sov E.
kuznetsovi (Zemlemerova et al., 2016), trong khi ghi nhận trƣớc đây về loài Chuột chũi đuôi dài Euroscaptor longirostris, loài đƣợc cho là phân bố ở Việt Nam (Osgood 1932; Abramov et al., 2008, 2013; Kawada et al., 2008, 2009; Đặng Ngọc Cần và cs 2008; Smith 2016) thì trong nghiên cứu gần đây của Zemlemerova et al., (2016) thì loài này mới chỉ ghi nhận ở Trung Quốc. Gần đây nhất, với việc ghi nhận bổ sung loài Episoriculus umbrinus (Abramov et al., 2017) thì hiện tại số lƣợng các loài thú ăn sâu bọ ở Việt Nam đã ghi nhận đƣợc 34 loài. 1 Họ Chuột chũi (Talpidae) gồm có 17 giống, 114 loài và phân loài, phân bố rộng khắp trên thế giới (Hutterer et al., 2005) thuộc bộ Chuột chù (Soricomorpha) mà trƣớc đây đƣợc xếp trong bộ Ăn sâu bọ (Insectivora) cùng với họ Chuột voi (Erinaceidae). Tuy nhiên, hệ thống phân loại các loài chuột chũi còn nhiều quan điểm chƣa thống nhất và nhiều khoảng trống cần nghiên cứu kỹ hơn (Grenyer và Purvis, 2003).
Tuy nhiên, nghiên cứu gần đây của Sato et al. Ở Việt Nam, cho tới nay có tổng số 6 loài chuột chũi thuộc 3 giống (Eurocaptor, Mogera, và Scaptonyx), trong đó có 3 loài hiện nay mới chỉ ghi nhận ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về họ Chuột chũi ở khu vực Đông Nam Á trong đó có Việt Nam gần đây đã đƣợc tiến hành bởi các nhà khoa học nƣớc ngoài nhƣ Kawada et al. (2005, 2006, 2008, 2009, 2010, 2012), Lunde et al.
(2007), Abramov et al. Các nghiên cứu này đánh giá vị trí phân loại một số loài thuộc họ Chuột chũi thuộc giống Eurocaptor và Mogera ở khu vực Đông Nam Á cũng nhƣ đã phát hiện, mô tả một loài chuột chũi mới cho khoa học. Các nghiên cứu về quan hệ di truyền của một số loài thuộc các giống Euroscaptor và Mogera đƣợc Shinohara et al. (2014, 2015), Zemlemerova et al.
(2016) thực hiện dựa trên phân tích so sánh trình tự của một số đoạn gen ty thể (Cytb, 12S rRNA và Rag1) với mẫu vật của 4 loài thu thập đƣợc ở Việt Nam và một số nƣớc lân cận. Tuy phân bố ở các khu vực khác nhau nhƣng một số loài chuột chũi lại xuất hiện những sự chồng lấn về kích thƣớc cơ thể, kích thƣớc bàn chân, hay chiều dài tối đa của hộp sọ,… (Kawada et al, 2012). Sự tƣơng đồng về kích thƣớc cơ thể và hình thái ngoài của các loài chuột chũi ở Việt Nam dẫn đến việc đặt ra câu hỏi đặc điểm nào là mấu chốt tạo nên sự khác biệt trong cùng loài và giữa các loài. Bên cạnh đó, với điều kiện địa hình phức tạp đã tạo ra trên lãnh thổ Việt Nam những sự thay đổi nhất định về điều kiện địa lý ở các vùng miền dẫn đến hình thành các vùng địa lý khác nhau (Fooden, J.
1996; Rundel, 1999; Averyanov et al. 2003; Sterling et al. 2006, Lê Vũ Khôi và cs. 2015) có ảnh hƣởng nhất định đến phân bố của các 2 loài động vật, dẫn đến sự sai khác nhất định về hình thái và kiểu hình của một số loài (Nguyen et al.
2015, 2016; Vuong et al. Nhƣ vậy, các nghiên cứu về họ Chuột chũi mới chỉ tập trung vào việc phát hiện loài mới hoặc ghi nhận mới trong khi đó, các nghiên cứu về sự sai khác các chỉ số hình thái sọ của các loài thú nhỏ nói chung và các loài chuột chũi nói riêng ở Việt Nam còn ít, rải rác và mới chỉ thực hiện chủ yếu trên nhóm dơi (Nguyen et al., 2015a,b, 2016; Vuong et al., 2015; 2017a,b; 2018), và nghiên cứu gần đây trên một số loài chuột chù (Bui et al., 2017), chƣa có nghiên cứu nào trên đối tƣợng chuột chũi. Mặt khác, việc xác định đƣợc sự biến thiên của các chỉ tiêu hình thái, trong đó có các chỉ tiêu hình thái hộp sọ nhằm phục vụ cho việc định loại còn chƣa đƣợc bàn luận, nghiên cứu đầy đủ. Từ các lý do trên, tôi đề xuất thực hiện đề tài “Nghiên cứu sự biến thiên các chỉ tiêu hình thái hộp sọ của một số loài chuột chũi (Eulipotyphla: Talpidae) ở Việt Nam” nhằm phân tích đặc điểm và sai khác hình thái hộp sọ, tạo cơ sở khoa học cho việc định loại.
Dựa vào kết quả phân tích các mẫu vật đang đƣợc lƣu giữ tại các bảo tàng trong và ngoài nƣớc, cùng với các mẫu vật bổ sung đƣợc thu thập trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi tiến hành so sánh đặc điểm hình thái sọ, sử dụng phƣơng pháp thống kê phân tích đa biến để đánh giá sự sai khác giữa các quần thể của các loài chuột chũi ở Việt Nam. Kết quả của nghiên cứu sẽ cập nhật những thông tin về sự biến thiên hình thái sọ, góp phần cung cấp cơ sở dữ liệu cho việc nghiên cứu quá trình tiến hoá và hệ thống phân loại các loài chuột chũi ở Việt Nam. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu cũng sẽ xây dựng bộ mẫu vật các loài chuột chũi ở Việt Nam phục vụ cho nghiên cứu và đào tạo. Mục tiêu nghiên cứu 1) Xây dựng cơ sở dữ liệu về một số chỉ tiêu hình thái sọ của các loài chuột chũi ở Việt Nam.
3 2) Nghiên cứu sự biến thiên của một số chỉ tiêu hình thái hộp sọ trong cùng loài và giữa các loài chuột chũi theo khu vực phân bố. 3) Bƣớc đầu tìm hiểu ảnh hƣởng của phân bố địa lý đến sự sai khác về kích thƣớc và hình dạng hộp sọ của loài các loài chuột chũi ở Việt Nam. Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Đo đạc chỉ tiêu hình thái sọ của các loài chuột chũi ở Việt Nam gồm 16 chỉ số. Nội dung 2: Phân tích, đánh giá sự biến thiên kích thƣớc và kiểu hình một số chỉ tiêu hình thái hộp sọ trong cùng loài và giữa các loài chuột chũi theo khu vực phân bố bằng phần mềm thống kê.
Nội dung 3: Đánh giá ảnh hƣởng của các yếu tố cách ly địa lý tới sự sai khác về kích thƣớc và hình dạng hộp sọ của các loài chuột chũi ở Việt Nam. SƠ LƢỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU THÚ Ở VIỆT NAM Trong quá khứ, ngƣời Việt đã biết khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên các loài thú hoang dã để phục vụ nhu cầu của mình nhƣ làm thực phẩm, dƣợc phẩm, công cụ, vũ khí, quần áo… Ngay từ thế kỷ XIII trong sách "Nam dƣợc thần hiệu" Danh Y Tuệ Tĩnh đã thống kê 480 vị thuốc nam trong đó có nêu 36 loài thú nhƣ: hổ, báo, mèo rừng, hƣơu, nai, sơn dƣơng, gấu, các loài khỉ, tê tê. Đó là danh mục các loài thú đƣợc ghi nhận lại theo tri thức bản địa của ngƣời dân các địa phƣơng, chƣa có nghiên cứu gì về sự phân bố địa lý cũng nhƣ các lĩnh vực sinh học và sinh thái. Tuy nhiên qua đó đã cho chúng ta thấy mối quan hệ gắn bó của nguồn lợi thú rừng đối với cuộc sống của cộng đồng ngƣời Việt đã có từ lâu (Đặng Huy Huỳnh và cs.
Tóm tắt lịch sử nghiên cứu thú ở Việt Nam có thể chia làm ba thời kỳ chủ yếu nhƣ sau: trƣớc năm 1954; thời kỳ từ 1954 - 1975 và từ năm 1975 đến nay. Thời kỳ trước năm 1954 Các nghiên cứu về thú ở Việt Nam đƣơc cho là bắt đầu vào thế kỷ XVIII với các tác phẩm nhƣ “Phủ biên tạp lục”, “Vân đài loại ngữ” của Lê Quý Đôn (1724 - 1784)… Trong thời kỳ này, việc nghiên cứu tập trung vào thống kê các loài thú có giá trị nhƣ voi, hƣơu, nai, gấu, hổ, báo, tê giác … để cống nộp các vật phẩm quý giá cho vua chúa trong nƣớc và nƣớc ngoài. Năm 1882, các Sử quan của Quốc Sử quán triều Nguyễn cũng đã ghi chép, mô tả một số loài thú ở địa phƣơng trong bộ sách “Đại Nam thống nhất chí”. Những ghi chép này cũng cho chúng ta thấy từ những thế kỷ trƣớc nhân dân Việt Nam cũng đã quan tâm tìm hiểu về loài thú hoang dã (Đặng Huy Huỳnh và cs.
Đầu thế kỷ XIX, việc nghiên cứu các loài thú hoang dã ở Việt Nam mới chính thức bắt đầu. Các nhà khoa học đến từ các nƣớc phƣơng Tây đã tiến hành khảo sát, thu thập mẫu vật ở Việt Nam và chuyển về các bảo tàng ở Paris (Pháp) và London (Anh) để phân tích và lƣu trữ. Từ năm 1821 - 1822, Finlayson đã tiến hành 5 các cuộc khảo sát thu thập mẫu vật thú đầu tiên ở Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia, Việt Nam (The mission to Siam and Hue Capital of Cochinchia in the years 1821 - 1822). Các dữ liệu trong cuộc khảo sát này dần dần đƣợc Dustales (1874, 1893, 1898), Germain (1887) và Gurney (1889)… công bố sau đó (Nguyễn Xuân Đặng và cs.