MỞ ĐẦU 1.1 Giới thiệu Động vật thủy sản là nguồn thực phẩm quan trọng cung cấp protein và một loạt các chất dinh dưỡng thiết yếu như can xi, kẽm, sắt, iodine, các acid béo thiết yếu và các vitamin A, D, B12 (Ahern et al., 2021), chiếm gần 17% lượng protein động vật của dân số toàn cầu và 7% tổng lượng protein được tiêu thụ năm 2017 (FAO, 2020). Do vậy, sản phẩm thủy sản tiêu thụ bình quân đầu người tăng khoảng 1,5%/năm (FAO, 2020); đồng thời nuôi trồng thủy sản (NTTS) phát triển nhanh chóng để đáp ứng nhu cầu gia tăng cho sản phẩm thủy sản, với sản lượng tăng 7,5%/năm kể từ năm 1970 (FAO, 2020). Tốc độ tăng trưởng toàn cầu của ngành NTTS đã dẫn đến hai vấn đề lớn là (1) cá sử dụng thức ăn thấp, chỉ đạt 30% và dẫn đến sản xuất kém hiệu quả (Avnimelech, 2007; Ekasari, 2009) và (2) sự tích tụ nhanh chóng của thức ăn dư thừa, hợp chất chuyển hóa và độc hại có tác động đến sự xuất hiện của dịch bệnh hoặc cá chết, cuối cùng gây ra tổn thất và các vấn đề ô nhiễm môi trường (Avnimelech, 2007; Crab et al., 2007; de Schryver et al. Hiện nay, biến đổi khí hậu dẫn đến tình trạng xâm nhập mặn, thiếu nước sản xuất, nhiệt độ nước thay đổi lớn theo mùa và nguồn nước dùng cho sản xuất bị ô nhiễm…Do vậy, người nuôi đã chuyển từ NTTS truyền thống sang các mô hình NTTS tuần hoàn.
Hệ thống NTTS tuần hoàn (RAS) là hệ thống khép kín liên tục lọc và tái sử dụng nước phục vụ lợi thế về giảm lượng nước tiêu thụ, cho phép nuôi cá quy mô lớn với lượng nước nhỏ và chất thải ít hoặc không gây ô nhiễm, giúp cho việc quản lý chất thải và tái sử dụng chất dinh dưỡng, quản lý dịch bệnh tốt hơn (Tal et al., 2009) và kiểm soát ô nhiễm sinh học (không có cá nuôi thất thoát ra ngoài tự nhiên, Zohar et al. Thiết kế và quản lý RAS hợp lý là cơ sở cho việc quản lý thành công trong xử lý chất thải NTTS. Trong những năm gần đây, cá trê là một trong những đối tượng dễ dàng tiêu thụ sản phẩm trên thị trường do chúng có hương vị thơm ngon và giá cả tương đối bình dân (Zidni et al. Đồng thời cá trê là loài cá có đặc điểm dễ nuôi, mau lớn, ít bệnh, sống được trong môi trường nước tù, có thể nuôi ở mật độ cao, năng suất cao.
Do đó nhiều hộ đã chuyển từ nông nghiệp sang NTTS (52%), đồng thời những hộ có ao bỏ trống (do nuôi cá tra gặp nhiều khó khăn, thua lỗ-chiếm 48%), đã chuyển sang nuôi cá trê, nhằm góp phần tăng thêm thu nhập, nâng cao cuộc sống gia đình (Tấn, 2014). Tuy nhiên người dân chỉ chú trọng nuôi cá trê vàng lai với mật độ nuôi khá cao từ 30-120 con/m2 (Thảo & Sinh, 2010; Tấn, 2014). Vấn đề đáng lo ngại là gây ra ô nhiễm nguồn nước do mật độ nuôi cao, thức ăn được sử dụng là cá tạp và tự chế. Điều này làm giảm chất lượng nước của môi trường nuôi do chất thải chuyển hóa cao và thức ăn thừa (Sidik et al.
Ngược lại, các nghiên cứu nuôi cá trê vàng trong ao đất đã đề nghị mật độ 1 nuôi rất thấp, khoảng 10 con/m2 (Coniza et al., 2003; Tấn, 2014) để đảm bảo các điều kiện môi trường thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cá trê vàng. Nhằm nâng cao năng suất nuôi cá trê vàng trong cùng một đơn vị sản xuất nhưng vẫn đảm bảo được vấn đề về quản lý chất lượng nước và hạn chế ô nhiễm môi trường, luận án “Cơ sở khoa học của các biện pháp xử lý chất thải nuôi cá trê vàng, Clarias macrocephalus Günther, 1864, trong hệ thống tuần hoàn” được đề xuất thực hiện, góp phần xây dựng cơ sở lý luận khoa học cho kỹ thuật nuôi cá trê vàng thương phẩm trong RAS và giải quyết vấn đề xử lý chất thải trong RAS nuôi cá trê vàng.2 Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu tổng quát Đề tài được thực hiện nhằm phát triển mô hình nuôi thủy sản bền vững hướng đến giảm sử dụng tài nguyên nước, giảm phát thải ra môi trường và cải thiện sản lượng cá nuôi trên cùng một đơn vị sản xuất.2 Mục tiêu cụ thể Xác định được các thông số về sức tải của RAS nuôi cá trê vàng, lượng chất thải, loài thực vật thủy sinh (TVTS) và diện tích TVTS xử lý chất thải để thiết kế RAS nuôi cá trê vàng. Xây dựng và vận hành được mô hình nuôi cá trê vàng trong RAS kết hợp TVTS xử lý chất thải.3 Phương pháp tiếp cận Xác lập cơ sở dữ liệu về sức tải của RAS và biến động hàm lượng chất thải trong RAS nuôi cá trê vàng dựa trên mật độ nuôi và số lần cho ăn. Thiết lập hệ thống xử lý chất thải dựa vào cân bằng vật chất dinh dưỡng, hệ thống TVTS xử lý chất thải và phù hợp với đặc điểm sinh trưởng của cá trê vàng.4 Phạm vi nghiên cứu Xây dựng hệ thống xử lý nước thải nuôi cá trê vàng thâm canh từ các cơ sở dữ liệu thiết lập ở các thí nghiệm được thực hiện trong phòng thí nghiệm để xây dựng mô hình nuôi cá trê vàng trong RAS với năng suất đạt 1.5 Nội dung nghiên cứu - Phần 1: Xác định các thông số cơ sở cho việc xây dựng mô hình RAS nuôi cá trê vàng.
+ Xác định các thông số về sức tải của RAS và biến động hàm lượng chất thải trong RAS nuôi cá trê vàng. + Xác định lượng chất thải và phân bố các chất thải của cá trê vàng nuôi trong RAS. + Xác định loài TVTS và diện tích TVTS xử lý chất thải hòa tan trong RAS. 2 - Phần 2: Xây dựng và vận hành mô hình RAS nuôi cá trê vàng kết hợp TVTS xử lý chất thải.
Trình tự nội dung nghiên cứu của Luận án được trình bày ở Hình 1. Phần 1: Xác định các thông số cơ sở cho việc xây dựng mô hình RAS nuôi cá trê vàng Xác định các thông số về Xác định lượng chất Xác định loài sức tải của RAS và biến thải và phân bố chất TVTS xử lý chất động hàm lượng chất thải thải của cá trê vàng thải hòa tan trong trong RAS nuôi cá trê vàng nuôi trong RAS RAS Cân bằng vật Xác định diện tích Xác định mật Xác định phương chất dinh TVTS xử lý chất độ nuôi cá trê thức cho ăn của dưỡng trong thải hòa tan trong vàng trong cá trê vàng trong RAS nuôi cá RAS RAS RAS trê vàng Phần 2: Xây dựng và vận hành mô hình RAS nuôi cá trê vàng kết hợp thực vật thủy sinh xử lý chất thải Hình 1.1: Sơ đồ tóm tắt các nội dung nghiên cứu trình bày trong Luận án 1.6 Ý nghĩa của luận án 1.1 Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp những thông số về kỹ thuật nuôi, lượng chất thải, loài thực vật và diện tích TVTS trong việc xây dựng và vận hành được RAS phục vụ cho đối tượng nuôi là cá trê vàng.2 Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của luận án đã xây dựng được RAS kết hợp TVTS xử lý chất thải cho nuôi cá trê vàng.7 Điểm mới của luận án - Xác định được các thông số về sức tải của RAS và biến động hàm lượng chất thải trong RAS nuôi cá trê vàng. - Xác định được lượng chất thải và phân bố các chất thải của cá trê vàng nuôi trong RAS. 3 - Xác định được loài TVTS và diện tích TVTS xử lý chất thải hòa tan trong RAS nuôi cá trê vàng.
- Lần đầu tiên xây dựng được quy trình nuôi thương phẩm và vận hành mô hình nuôi cá trê vàng trong RAS kết hợp với hệ thống bèo tai tượng xử lý chất thải. 4 CHƯƠNG 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2.1 Sơ lược về đặc điểm sinh học và kỹ thuật nuôi cá trê vàng 2.1 Phân loại Họ cá Trê gồm nhiều loài ở châu Á và châu Phi. Ở Việt Nam đang khai thác và nuôi: cá Trê Đen (Clarias focus), Trê Trắng (C.batrachus), Trê phi (C.gariepinus), cá Trê lai và cá Trê vàng. Trong đó, cá trê vàng có tên khoa học là C.macrocephalus (Gunther, 1864) (http://www.fishbase) được phân loại như sau: Ngành: Chordata Lớp: Actinopterygii Bộ: Siluriformes Họ: Clariidae Giống: Clarias Loài: Clarias macrocephalus (Gunther, 1864) Hình 2.2 Hình thái và tập tính sống Tất cả các loài cá trê đều là cá nước ngọt.
Cá trê vàng phân bố chủ yếu ở Philippines, Thái Lan, Lào, Campuchia và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - Việt Nam. Theo mô tả của Khoa & Hương (1993) thì cá trê vàng có đầu rộng, dẹp bằng, da đầu ở sọ não mỏng, xương sọ nổi lên rõ ràng. Miệng cận dưới không co duỗi được, răng trên hàm nhỏ mịn cứng chắc, có 4 đôi râu khá phát triển. Mắt nhỏ, nằm ở mặt lưng của đầu và gần chóp mõm hơn điểm cuối nắp mang.
Khoảng cách hai ổ mắt rộng. Thân dài, phần trước tròn, phần sau mỏng, dẹp bên. Đầu to, rộng, dẹp đứng. Xương chẩm có góc hình tròn.
Lưng và đỉnh đầu màu đen, bụng vàng nhạt. Hai bên thân có những chấm trắng tạo thành các hàng 5 thẳng đứng. Mặt lưng của thân và đầu có màu xám đến nâu đen và nhạt dần xuống mặt bụng. Bụng và mặt dưới của đầu có màu vàng.
Trên thân mỗi bên có khoảng 10 hàng chấm nhỏ màu trắng nằm vắt ngang thân (Teugels et al. Đa số các loài cá trê vàng sống ở ruộng lúa, sông ngòi, kênh mương, ao hồ nước ngọt. Sống đáy, có tập tính nằm chui hang, sợ ánh sáng mạnh. Ban ngày thường sống trong hang, đêm ra ngoài kiếm ăn.
Hàm lượng oxy hòa tan trong nước (DO) thấp hơn 5 ppm hay lớn hơn bão hòa sẽ ảnh hưởng không tốt đến tôm cá. Oxy hòa tan lý tưởng cho sự phát triển của tôm cá từ 5 ppm đến bão hòa. Cá có cơ quan hô hấp phụ thường không bị thiếu oxy do có khả năng lấy oxy trực tiếp từ không khí. Các loài cá trê nói chung đều có tính chịu đựng cao với môi trường khắc nghiệt, nơi có hàm lượng DO thấp, chỉ cần da cá có độ ẩm nhất định có thể sống trên cạn được vài ngày vì cơ thể cá trê có cơ quan hô hấp phụ gọi là “hoa khế” giúp cá hô hấp được nhờ khí trời (Hương & Tư, 2010; Lư, 2007).
Cá trê có thể di chuyển trên cạn bằng cách dùng gai cứng vây ngực để bò trên bờ, di chuyển rất nhanh.