phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tài liệu Chƣơng 2. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Đặc điểm khu vực nghiên cứu và phân tích biến động sử dụng đất Chƣơng 4.
Đánh giá biến động đất đai trong bối cảnh biến đổi khí hậu. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về nghiên cứu biến động sử dụng đất 1.
Một số khái niệm sử dụng trong luận văn 1. Khái niệm về sử dụng đất Sử dụng đất là khái niệm đƣợc xây dựng dựa theo chức năng, mục đích sử dụng đất[38]. Khái niệm sử dụng đất liên quan chặt chẽ đến lớp phủ mặt đất, tức là lớp vật chất mà ta quan sát trên mặt đất. Sử dụng đất chính là sự kết hợp giữa lớp phủ và hoạt động của con ngƣời.
Khi nói đến loại hình sử dụng đất, ngƣời ta thƣờng xếp theo các nhóm, hoặc lớp. Một lớp sử dụng đất có thể đƣợc định nghĩa là một tập hợp các hành động đƣợc thực hiện nhằm cung cấp một hay nhiều hơn loại hàng hóa hoặc dịch vụ trên một khoanh vi diện tích đất nhất định. Theo một số tác giả (dẫn theo [45]), hai động lực cơ bản ảnh hƣởng tới quyết định sử dụng đất nói chung là: (i) động lực sinh thái – xã hội; và (ii) các động lực kinh tế - xã hội. Trong đó, động lực sinh thái – xã hội là động lực nội sinh (gồm: sự phát triển có giới hạn của nguồn tài nguyên thiên nhiên và chu kỳ thích ứng; sự thiếu hụt đất đai và thâm canh nông nghiệp; điều chỉnh sử dụng đất), mang tính địa phƣơng, xuất hiện khi dòng hàng hóa và dịch vụ đƣợc cung cấp bởi các hệ sinh thái tự nhiên bị suy giảm nghiêm trọng, khiến chúng buộc phải làm chậm hoặc thậm chí đảo ngƣợc sự biến đổi sử dụng đất.
Động lực kinh tế - xã hội là các động lực ngoại sinh (gồm: sự hiện đại hóa kinh tế, thuê đất và tiếp cận thị trƣờng, chế độ sở hữu đất đai, thƣơng mại toàn cầu, sự phổ biến của các ý tƣởng bảo vệ môi trƣờng toàn cầu), bắt nguồn từ cấp độ tổ chức cao hơn, từ khu vực lân cận, hoặc từ các cuộc cải cách địa phƣơng, dẫn đến sự chuyển dịch từ mở rộng sử dụng đất sang phục hồi hệ sinh thái tự nhiên ở quy mô quốc gia. Ở Việt Nam, theo Luật Đất đai đƣợc ban hành 2013 các loại hình sử dụng đất(LUT)đƣợc đƣa vào quản lý theo 03 nhóm sử dụng đất chính: - Nhóm đất nông nghiệp gồm: đất trồng lúa, đất trồng cây hàng năm, lâu năm, đất rừng và đất nuôi trồng thủy sản, làm muối; 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Nhóm đất phi nông nghiệp gồm: Đất ở đô thị và nông thôn, đất trụ sở cơ quan, quốc phòng, an ninh, đất chuyên dùng, giao thông, công cộng và các hoạt động khác; - Nhóm đất chƣa sử dụng gồm các loại đất chƣa xác định mục đích sử dụng. Khái niệm về biến động sử dụng đất Liên quan tới biến đổi sử dụng đất, dựa trên 320 nguồn tài liệu từ sách báo, tạp chí trong các lĩnh vực kỹ thuật, vật lý, khoa học xã hội, có những từ “sử dụng đất”, “biến đổi sử dụng đất”, “biến đổi lớp phủ và sử dụng đất” hoặc “biến đổi lớp phủ đất” trong tiêu đề hoặc từ khóa (có sự giới hạn đối với một khái niệm rộng lớn hơn của các lĩnh vực có sự tham gia của phƣơng pháp tiếp cận quản lý nhân chủng học/môi trƣờng kết hợp với các chủ đề nhƣ: cải cách đất đai, quyền sử dụng đất, quản lý đất đai và quyền sở hữu, tái định cƣ, và quan điểm cộng đồng về đất đai), các tác giả B. McCusker và Carr đã tổng kết lại 4 xu hƣớng nghiên cứu chính [48]: - Nguyên nhân của sự biến đổi sử dụng đất thƣờng đƣợc cho là do kết hợp lại các động lực đƣợc xác định một cách rộng rãi; -Việc nghiên cứu về nguyên nhân của sự thay đổi hƣớng tới tiếp cận các động lực biến đổi mang tính toàn cầu hoặc khu vực; - Biến đổi sử dụng đất thƣờng đƣợc coi nhƣ là kết quả của các quá trình khác (chính trị, kinh tế, môi trƣờng); - Các nghiên cứu biến đổi sử dụng đất có xu hƣớng nghiên cứu theo cấp hộ hộ gia đình và kết quả mô hình hóa.
Theo IPCC ([42]), biến đổi sử dụng đất vừa là một trong các nguyên nhân của biến đổi khí hậu vừa là đối tƣợng chịu tác động của biến đổi khí hâu. Trong đó, đáng lƣu ý là các tác giả đã nhận thấy các vấn đề sau: - Xu hƣớng trong lý thuyết biến đổi sử dụng đất chỉ dừng lại ở xác định động lực và mô hình hóa kết quả dựa trên những gì tìm đƣợc, mà ít khi đi sâu vào nguyên nhân tại sao lại là những động lực này làm biến đổi sử dụng đất và cách chúng xây dựng mang tính xã hội nhƣ thế nào. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tuy các ứng dụng mô hình hóa phần nào đáp ứng nhu cầu thực tế cho việc ra chính sách với các kịch bản biến đổi, trong đó có BĐKH, nhƣng vẫn có sự hạn chế bởi các mô hình này không thể tính hết đƣợc sự phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến thay đổi sử dụng đất. Khái niệm về lớp phủ sử dụng đất, lớp phủ thực vật và lớp phủ đất - Lớp phủ thực vật là toàn bộ thảm thực vật xuất hiện trên mặt đất bao gồm thực vật mọc tự nhiên và thực vật đƣợc trồng do con ngƣời.
- Lớp phủ đất là bề mặt vật lý của trái đất ( thực vật, đất trống, mặt nƣớc, các công trình xây dựng…) có thể quan sát đƣợc bằng mắt hoặc trên tƣ liệu ảnh viễn thám. Lớp phủ thực vật là một phần của lớp phủ đất. - Lớp phủ sử dụng đất là chỉ bề mặt vật lý của trái đất đƣợc con ngƣời sử dụng nhƣ thế nào (đất giao thông, đất ở, đất nông nghiệp…), cho thấy tác động của con ngƣời lên mặt đất, là không gian chức năng tƣơng ứng với mục đích kinh tế xã hội của con ngƣời. Tổng quan tình hình nghiên cứu về biến động sử dụng đất 1.
Trên thế giới Phần lớn các nghiên cứu về biến động sử dụng đất (BĐSDĐ) ban đầu chỉ đơn giản là phát hiện những thay đổi sử dụng đất ở những khu vực cụ thể bằng kỹ thuật viễn thám và GIS. Sau này, các nghiên cứu đƣợc phát triển nhằm tìm ra các động lực và hệ quả dẫn tới khi biến động (dẫn theo [9]) Để giải thích đƣợc nguyên nhân cũng nhƣ đánh giá đƣợc ảnh hƣởng của BĐSDĐ nhiều nghiên cứu sử dụng phƣơng pháp mô hình hóa.Tuy nhiên, nhiều phân tích không gian và mô hình thay đổi sử dụng đất không đồng nhất tồn tại trong nghiên cứu vì vậy đã thúc đẩy nhiều các nghiên cứu về vấn đề này. Các nhà khoa học tự nhiên và địa lý đã dẫn đầu trong việc phát triển các mô hình không gian tƣờng minh (spatially explicit models) để nghiên cứu BĐSDĐ. Mô hình không gian thay đổi sử dụng đất đƣợc chia làm 3 nhóm: Mô phỏng, dựtính và tiếp cận tổng hợp[17].
Các mô hình mô phỏng đƣợc xây dựng dựa trên tiếp 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cận của phƣơng pháp tế bào tự động (Cellular Automata). Tế bào tự động là một mô hình toán học, trong đó hành vi của một hệ thống đƣợc tạo ra bởi một tập hợp các quy tắc xác định hoặc xác suất để xác định trạng thái rời rạc của một tế bào dựa trên trạng thái của các tế bào lân cận. Một vài nghiên cứu ứng dụng mô hình này để phân tích quá trình đô thị hóa. Tuy nhiên, mô hình đƣợc giả định trên cảnh quan đơn giản với tƣơng tác của các yếu tố không đồng nhất khác nhƣ quy hoạch, trung tâm việc làm, các yếu tố môi trƣờng.
Mô hình chƣa phân tích đƣợc phản ứng của ngƣời sử dụng đất với những thay đổi trong chế độ chính sách. Các công trình nghiên cứu khác sử dụng mô hình thực nghiệm để đánh giá BĐSDĐ bằng tƣ liệu viễn thám [7, 16]. Dữ liệu của mô hình là hình ảnh trên tƣ liệu viễn thám hoặc đo đƣợc bằng GIS nhƣ khoảng cách hoặc dữ liệu đất, độ dốc, độ cao hoặc yếu tố kinh tế xã hội nhƣ dân số, tổng sản phẩm quốc nội. Trong nhiều trƣờng hợp mô hình ứng dụng để xác định không gian thay đổi sử dụng đất khá tốt.
Tuy vậy, mô hình này cũng không thành công trong việc giải thích hành vi của con ngƣời dẫn đến BĐSDĐ. Các biến của mô hình gồm dữ liệu thống kê (dân số, tăng trƣởng kinh tế.), bản đồ đất, bản đồ sử dụng đất, lớp phủ và các dữ liệu thu thập từ điều tra phỏng vấn hộ gia đình hay các nhà quản lý[18, 19, 45]. Dữ liệu đƣợc đƣa vào mô hình bằng kỹ thuật GIS và các kỹ thuật máy tính khác. Mô hình không gian sẽ xác định đƣợc quá trình BĐSDĐ, lớp phủ và tác động của chúng có thể đƣợc sử dụng để thiết lập mối quan hệ nhân quả của BĐSDĐ trong quá khứ.
Vì vậy, mô hình là công cụ hữu ích cho ngƣời quản lý đất đai và hoạch định chính sách, cung cấp dự báo những thay đổi sử dụng đất trong tƣơng lai. Mô hình BĐSDĐ và lớp phủ phụ thuộc vào chính trị, kinh tế, môi trƣờng.Sau đó, những thay đổi trong sử dụng đất đƣợc dùng để khám phá tác động của chính sách và các yếu tố khác. Việc sử dụng công cụ phân tích kịch bản mô hình sẽ đƣa ra những hƣớng dẫn trong hoạch định chính sách và quản lý đất đai đối với các quyết định của nhà quản lý. Phƣơng pháp phân tích thống kê không gian cho phép xác định mối tƣơng quan giữa BĐSDĐ với các yếu tố địa lý tự nhiên và kinh tế xã hội.
Tùy thuộc vào đối tƣợng địa lý và cơ sở dữ liệu mà ta có thể sử dụng các thuật toán và phƣơng pháp thống kê không gian khác nhau: định 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Phƣơng pháp phân tích thống kê đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu về BĐSDĐ trong thời gian gần đây. McCusker và Carr (2006)[48] xác định xu hƣớng nghiên cứu biến động sử dụng đất nhƣ sau: + Xu hƣớng trong lý thuyết BĐSDĐ chỉ dừng lại ở xác định động lực và mô hình hóa kết quả dựa trên những gì tìm đƣợc, mà ít đi sâu vào nguyên nhân tại sao những động lực này làm BĐSDĐ.