CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Hoạt động của những trung tâm khí áp được nghiên cứu 1.1 Áp thấp Trung Hoa [6, 7, 8] 1) Nguồn gốc Áp thấp Trung Hoa là một áp thấp nhiệt được hoạt động trên lục địa Trung Quốc trong những tháng mùa hè khi nền nhiệt của vùng nhiệt độ này tăng lên một cách đáng kể trong khi áp cao lạnh lục địa suy yếu và rút sang phía tây (hình 1. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 1000mb tháng 7 Từ hình 1.1 ta thấy, tại mực 1000mb, ngoài áp thấp Nam Á có tâm ở vào khoảng 280N; 700E với đường đẳng cao -20dam đtv khép kín, ở khoảng 420N; 1080E tồn tại một tâm thấp được thể hiện bằng đường cao với giá trị 0dam đtv (xấp xỉ cường độ của áp thấp Nam Á) khép kín, được gọi là áp thấp Trung Hoa. Áp thấp này hoạt động từ tháng 5 đến tháng 9, trong đó tháng 7 là tháng hoạt động mạnh nhất. Theo phương thẳng đứng, áp thấp này phát triển từ bề mặt lên đến độ cao dưới 700mb.
Rõ ràng rằng, cùng với áp thấp Nam Á, áp thấp Trung Hoa cũng là một trung tâm hút gió, nó hút gió từ bán cầu Nam, qua lãnh thổ Việt Nam, qua biển Đông cũng như hút gió từ áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương tới. Những dòng gió 3 này ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam nên chính áp thấp này ảnh hưởng đến thời tiết Việt Nam. 2) Hệ quả thời tiết Áp thấp Trung Hoa chỉ hoạt động trong các tháng mùa hè khi khu vực này bị đốt nóng và áp cao Siberia không còn hoạt động. Áp thấp Trung Hoa hoạt động như là một trung tâm hút gió từ bán cầu Nam lên, từ các áp cao lục địa vùng vĩ độ cao và từ áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương vào nên nó có vai trò như một áp thấp trong rãnh gió mùa của gió mùa mùa hè Đông Bắc Á.
Như vậy, áp thấp này một nhân tố gió mùa mùa hè Đông Bắc Á và cường độ của nó có ý nghĩa rất lớn đối với cường độ của gió mùa mùa hè của tiểu hệ thống gió mùa này. Bên cạnh đó, khi áp thấp này hoạt động mạnh và lấn xuống phía nam và đặc biệt là khi trong nó hình thành một dải áp thấp sâu, với những tâm khép kín trên đó, chạy theo hướng đông đông bắc-tây tây nam vùng lưu vực sông Trường Giang thì hình thế front tĩnh Meiyu được hình thành trên lưu vực sông này và gây mưa kéo dài ở đây trong thời kì tháng 6, 7. Đồng thời, hình thế thời tiết này lại gây nên những đợt nắng nóng gay gắt cho khu vực Bắc Bộ Việt Nam.2 Áp cao Thanh Tạng [2, 8] 1) Nguồn gốc Áp cao Thanh Tạng là một áp cao hoạt động trên khu vực cao nguyên Tây Tạng –Thanh Hải nên được gọi là áp cao Thanh Tạng. Trên bán cầu Bắc, Khromov đã xác định và phân thành 5 loại áp cao khác nhau với những đặc điểm hoạt động và hệ quả thời tiết khác nhau, theo đó, áp cao Thanh Tạng là áp cao loại III (CIII), áp cao tĩnh vĩ độ trung bình.
Theo Khromov, áp cao loại III là những áp cao tồn tại khá bền vững và ít di chuyển nhưng cường độ của nó thường biến động tương đối lớn, ở trạng thái tĩnh, áp cao này còn đóng vai trò của một nhân tố gió mùa. Áp cao Thang Tạng hoạt động một cách độc lập và rõ rệt từ tháng 4 đến tháng 9, khi áp cao Siberia suy yếu và rút sang phía tây (hình 1. Đến tháng 10, khi bề mặt lục địa ở đây lạnh đi, áp cao Siberia hoạt động trở lại thì áp cao Thanh Tạng bị lấn át và hòa nhập vào áp cao này nên không còn phân tích một cách độc lập được nữa, giai đoạn hoạt động của áp cao Thanh Tạng kết thúc.2 ta thấy, tại mực 1000mb, trên khu vực phía bắc cao nguyên Tây Tạng, ở vào khoảng 320N; 870E, tồn tại một trung tâm áp thấp với đường đẳng cao 14dam đtv khép kín. Theo độ cao, áp cao này phát triển lên đến trên mực 850mb.
Bên cạnh đó, ta còn có thể nhận thấy, áp cao Siberia đã dịch chuyển hẳn sang phía 4 tây, ở vào khoảng 50 0N; 500E với đường đẳng cao 12dam đtv (thấp hơn trung tâm áp cao Thanh Tạng 2dam đtv). 2) Hệ quả thời tiết Như đã nói, áp cao Thanh Tạng hình thành và ảnh hưởng đến Việt Nam trong những tháng mùa hè. Vào thời kì này, áp cao Thanh Tạng về thường gây nên mưa rào và dông ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nhưng cường độ và độ kéo dài của hiện tượng này tùy theo vào độ bất ổn định của khối không khí nóng ẩm phía trước và sự tương phản về nhiệt giữa hai khối không khí đó. Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 1000mb tháng 5 1.3 Áp cao Hoa Đông [1, 8] 1) Nguồn gốc Áp cao Hoa Đông là một áp cao hoạt động trên vùng duyên hải phía đông Trung Quốc nên được gọi là áp cao Hoa Đông.
Áp cao này hoạt động từ tháng 9 đến tháng 11, nhưng rõ rệt nhất là trong tháng 10. Theo độ cao, áp cao Hoa Đông phát triển từ bề mặt đến trên mực 850mb, nhưng rõ rệt nhất là tại mực 925mb với đường đẳng cao 82dam đtv khép kín ở vào khoảng 340N; 1160E (hình 1. Cũng theo Phạm Vũ Anh và Nguyễn Viết Lành [1, 8], vào mùa thu, áp cao Hoa Đông hình thành và phát triển ở phía đông lục địa Trung Quốc, đồng thời bao 5 trùm phía bắc và toàn bộ lảnh thổ Việt Nam. Trong áp cao Hoa Đông ở lớp khí quyển tầng thấp, nó là một áp cao lạnh lục địa được hình thành trên mặt đệm khô đang lạnh dần đi (nguyên nhân nhiệt lực), còn ở các lớp khí quyển cao hơn trung tâm áp cao lại thuộc về đới áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình Dương, nó được hình thành bởi nguyên nhân động lực, luôn luôn tồn tại một dòng giáng sâu, ở bên trên thường tồn tại một lớp nghịch nhiệt nén, khiến cho tầng kết trong áp cao Hoa Đông rất ổn định.
Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 925mb tháng 10 2) Hệ quả thời tiết Vào mùa thu, không khí lạnh bắt ảnh hưởng đến miền Bắc Việt Nam, khởi đầu là sự bao trùm của một lưỡi áp cao lạnh khô của áp cao Hoa Đông được hình thành và mạnh lên tại chỗ. Lưỡi cao này luôn duy trì một tầng kết ổn định thẳng đứng, đó chính là hình thế synop tạo nên mùa thu trong xanh mà miền Bắc Việt Nam cũng như phần lục địa phía đông và nam của Trung Quốc có được. Ở đây cần phân tích được một đặc điểm quan trọng của loại hình thời tiết này là tính ổn định theo thời gian của nó. Tính ổn định của thời tiết mùa thu không có loại hình thời tiết nào thay thế được, thời tiết tốt liên tục trong nhiều ngày, chỉ có sự thăng giáng không nhiều về nhiệt độ và tốc độ gió mà không xuất hiện một sự biến đổi đột biến nào.
Thật vậy, trong thời kỳ này hầu như không có một đợt không khí lạnh nào xâm 6 nhập, hoặc nếu có thì cũng rất ít và không mạnh mẽ. Sở dĩ như vậy là vì áp cao Hoa Đông được hình thành tại chỗ với tầng kết rất ổn định và lại có kết cấu toàn bộ hoàn chỉnh, không bị chia cắt bởi các rãnh khí áp hay các đường đứt có thể tạo ra những dải hội tụ gió làm gián đoạn đường dòng.4 Áp cao Tây Tạng [7, 8] 1) Nguồn gốc Áp cao Tây Tạng là một áp cao tồn tại trên cao nguyên Tây Tạng, được gọi là áp cao Tây Tạng. Áp cao này, hoạt động mạnh nhất trên mực 200mb chủ yếu trong các tháng mùa hè, khi áp cao cận nhiệt đới Bắc Thái Bình hoạt động mạnh trở lại. Trong tháng 7, sự hoạt động của áp cao này được thể hiện bởi đường đẳng cao 1248 và 1256dam đtv khép kín với đới gió đông thổi từ Philippines đến châu Phi (đới gió đông nhiệt đới) (hình 1.
Bản đồ đường dòng và đường đẳng cao trung bình nhiều năm mực 200mb tháng 7 2) Hệ quả thời tiết Áp cao Tây Tạng là một hệ thống khí áp hoạt động trên tầng đối lưu trên sự hoạt động của nó có mối liên hệ với các trung tâm áp thấp tầng đối lưu dưới trong cơ cấu của vòng hoàn lưu Hadlay. Vì vậy hệ quả thời tiết của nó gắn liền với sự hoạt động của các trung tâm khí áp tầng thấp, sự hoạt động của áp cao Tây Tạng sẽ góp phần làm sâu sắc thêm hệ quả thời tiết của các trung tâm áp thấp, tầng đối lưu 7 dưới, khi áp cao Tây Tạng mạnh lên phía bắc Việt Nam chịu sự khống chế của áp cao này vì vậy dòng giáng mạnh của áp cao đã làm cho bầu trời quang mây góp phần cùng với trung tâm áp thấp nóng tầng thấp làm cho thời tiết nắng nóng và không mưa trên suốt khu vực.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1.1 Nghiên cứu về sự biến đổi khí hậu Kết quả quan trắc cho thấy [19], nhiệt độ tăng trên toàn cầu và tăng nhiều hơn ở các vĩ độ cực Bắc. Sự gia tăng nhiệt độ trong 100 năm, từ năm 1906-2005, là 0,740C; xu thế tăng nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,130C/1 thập kỉ, gấp 2 lần xu thế tăng của 50 năm trước đó. Tuy nhiên, sự nóng lên xảy ra không đồng đều trong các khoảng thời gian khác nhau và giữa các khu vực khác nhau.
Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, giai đoạn từ năm 1850-1915 không có nhiều thay đổi về nhiệt độ. Giai đoạn từ năm 1910-1940 nhiệt độ trung bình toàn cầu tăng lên khoảng 0,350C, sau đó có một thời kì ngắn nhiệt độ trung bình giảm xuống 0,10C, và ngay sau đó, từ năm 1970 nó lại tiếp tục tăng lên nhanh chóng (0,550C) cho đến năm 2006. Bên cạnh đó, sự nóng lên ở trên đất liền nhìn chung lớn hơn ở trên đại dương, đặc biệt là từ năm 1970 đến nay (trong giai đoạn 1979-2005, nhiệt độ đất liền tăng 0,270C/thập kỉ, còn trên đại dương là 0,130C/thập kỉ). Theo mùa, thì sự nóng lên thể hiện lớn hơn một chút ở bán cầu mùa đông.