ĐẶT VẤN ĐỀ. TỔNG QUAN TÀI LIỆU. Định nghĩa, dịch tễ học, yếu tố nguy cơ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Định nghĩa bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính.
Dịch tễ học bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Những yếu tố nguy cơ của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Cơ chế bệnh sinh của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
Chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ tắc nghẽn. Đánh giá mức độ tắc nghẽn BPTNMT:. Đánh giá bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính theo nhóm GOLD. Bệnh đồng mắc ở bệnh nhân BPTNMT.
Rối loạn nhịp tim. Bệnh mạch vành (thiếu máu cục bộ cơ tim). Một số biến đổi điện tim, siêu âm tim. Một số biến đổi điện tim.
Một số biến đổi siêu âm tim. Một số nghiên cứu sự biến đổi điện tim và siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Nghiên cứu về sự biến đổi trên siêu âm tim. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Đối tƣợng nghiên cứu. Tiêu chuẩn chọn đối tƣợng nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
Phƣơng pháp nghiên cứu. Phƣơng pháp: Nghiên cứu mô tả, thiết kế cắt ngang. Cỡ mẫu và chọn mẫu. Chỉ số nghiên cứu.
Chỉ số để thực hiện mục tiêu 1: Mô tả một số đặc điểm điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. Chỉ số để thực hiện mục tiêu 2. Phƣơng pháp và kỹ thuật thu thập số liệu. Cận lâm sàng.
Tiêu chuẩn đánh giá. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ tắc nghẽn(GOLD 2020). Tiêu chuẩn đánh giá nhóm bệnh theo GOLD 2020. Tiêu chuẩn chẩn đoán tăng huyết áp.
Tiêu chuẩn xác định một số biến đổi điện tim. Tiêu chuẩn đánh giá một số chỉ số hình thái, chức năng tim trên siêu âm tim. Phƣơng pháp xử lý số liệu. Đạo đức nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .Đặc điểm chung của đối tƣợng nghiên cứu. Một số đặc điểm điện tim và siêu âm tim của đối tƣợng nghiên cứu. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với một số biến đổi điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân BPTNMT. Các yếu tố liên quan đến biến đổi nhịp tim .2 Các yếu tố liên quan đến biến đổi sóng P .2 Các yếu tố liên quan đến áp lực động mạch phổi.
Các yếu tố liên quan đến chức năng thất phải. Đặc điểmchung của đối tƣợng nghiên cứu. Một số đặc điểm điện tim và siêu âm tim của đối tƣợng nghiên cứu. Mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với một số biến đổi điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân BPTNMT.
66 TÀI LỆU THAM KHẢO. 74 BỆNH ÁN NGHIÊN CỨU. DANH SÁCH BỆNH NHÂN. D NH ỤC ẢNG Bảng 3.
Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo tuổi. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo địa dƣ. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo thời gian mắc bệnh. Tiền sử hút thuốc lá.
Một số đặc điểm lâm sàng của đối tƣợng nghiên cứu. Một số bệnh tim mạch của đối tƣợng nghiên cứu. Kết quả đo chức năng thông khí phổi. Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo mức độ tắc nghẽn.
Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo nhóm bệnh. Loại thuốc đang sử dụng ở đối tƣợng nghiên cứu. Các biến đổi nhịp tim của đối tƣợng nghiên cứu. Các biến đổi sóng P của đối tƣợng nghiên cứu.
Các biến đổi trục điện tim, phức bộ QRS, sóng T của đối tƣợng nghiên cứu. Một số biến đổi siêu âm tim của đối tƣợng nghiên cứu. Áp lực động mạch phổi tâm thu của đối tƣợng nghiên cứu. Mối liên quan giữa địa dƣ với biến đổi nhịp tim.
Liên quan giữa thời gian mắc bệnh với biến đổi nhịp tim. Mối liên quan giữa thang điểm CAT với biến đổi nhịp tim. Liên quan giữa mức độ tắc nghẽn với biến đổi nhịp. Liên quan giữa nhóm bệnh với biến đổi nhịp tim.
Liên quan giữa mức độ tắc nghẽn với biến đổi sóng P. Liên quan giữa nhóm bệnh với biến đổi sóng P. Liên quan giữa thời gian mắc bệnh với tăng áp lực động mạch phổi. Liên quan giữa mức độ tắc nghẽn với áp lực động mạch phổi.
Liên quan giữa nhóm bệnh với áp lực động mạch phổi. Bảng mối liên quan giữa mức độ tắc nghẽn với chức năng thất phải. Liên quan giữa nhóm bệnh với chức năng thất phải. 44 D NH ỤC SƠ ĐỒ IỂU ĐỒ Biểu đồ 3.
Phân bố đối tƣợng nghiên cứu theo giới. Tỷ lệ loạn nhịp. 36 1 Đ T VẤN ĐỀ Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là bệnh thƣờng gặp và có xu hƣớng gia tăng do sự già đi của dân số và sự gia tăng của các yếu tố nguy cơ nhƣ hút thuốc, ô nhiễm môi trƣờng, nhiễm khuẩn. Bệnh thƣờng xuất hiện sau 40 tuổi, tiến triển kéo dài, chi phí khám và chữa bệnh cao, hậu quả của bệnh nặng nề vì thế BPTNMT thực sự là một vấn đề sức khỏe [39].
Tổ chức y tế thế giới(WHO) khẳng định, BPTNMT nằm trong nhóm nguyên nhân gây ra tử vong hàng đầu trên thế giới. Năm 2015, cả thế giới có 3,17 triệu ngƣời chết vì BPTNMT[75]. Dự đoán đến năm 2030, BPTNMT sẽ đứng thứ 3 trong các nguyên nhân gây ra tử vong cho dân số thế giới[76]. Từ năm 2011 đến nay, BPTNMT không chỉ đƣợc biết đến những tổn thƣơng tại cơ quan hô hấp mà BPTNMT đã đƣợc coi nhƣ bệnh lý toàn thân, sự xuất hiện gia tăng các bệnh lý ở cơ quan khác đã đƣợc các nhà khoa học cho rằng chúng góp phần làm nặng thêm tình trạng bệnh, từ đó thuật ngữ “Bệnh đồng mắc” trong BPTNMT ra đời.
Những bệnh đồng mắc đó là: bệnh lý tim mạch, loãng xƣơng, suy mòn, rối loạn tâm thần, rối loạn chuyển hóa. Trong đó, bệnh tim mạch vừa có thể là biến chứng vừa có thể là bệnh đồng mắc chiếm tỷ lệ cao nhất và là nguyên nhân gây tử vong chính của BPTNMT[39] , [38] , [74] .Trong kết quả điều tra cộng đồng đã cho thấy ngƣời bị BPTNMT có nguy cơ tim mạch cao gấp 3 lần so với ngƣời khỏe mạnh và tử vong do bệnh tim mạch chiếm khoảng 50 % trong toàn bộ tử vong ở ngƣời BPTNMT, liên quan nhồi máu cơ tim, đột quỵ não, suy tim, tăng huyết áp và loạn nhịp. Cùng với sự quan tâm về bệnh lý tim mạch trong BPTNMT của các nhà khoa học trên thế giới, tại Việt Nam một số công trình nghiên cứu đã tìm hiểu những biểu hiện bệnh lý tim mạch trên điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân BPTNMT đã cho thấy có nhiều biến đổi phong phú về hình thái, chức năng cơ học, chức năng dẫn truyền[5] , [16] 2 Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn trong những năm gần đây có lƣu lƣợng bệnh nhân mắc BPTNMT tƣơng đối lớn. Các bệnh nhân cũng đã đƣợc chẩn đoán bệnh đồng mắc về tim mạch nhƣ tăng huyết áp, bệnh mạch vành, rung nhĩ.
Thậm chí có cả bệnh nhân BPTNMT tử vong do nhồi máu cơ tim. Điện tim và siêu âm tim là kỹ thuật thƣờng qui đã đƣợc triển khai. Tuy nhiên chúng tôi chƣa có thống kê khoa học về bệnh lý tim mạch cũng nhƣ biểu hiện điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân BPTNMT và mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với một số biến đổi điện tim, siêu âm tim. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ nhằm mục tiêu sau: 1.
Mô tả một số đặc điểm điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính quản lý điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn năm 2019- 2020. Phân tích mối liên quan giữa đặc điểm lâm sàng với một số biến đổi điện tim, siêu âm tim ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính. TỔNG QU N TÀI LI U 1. Định nghĩa dịch tễ học yếu tố nguy cơ bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 1.
ĩ ã Định nghĩa mới nhất về BPTNMT đƣợc GOLD 2020 đƣa ra là bệnh lý thƣờng gặp, có thể phòng ngừa và điều trị đƣợc. Đặc trƣng bởi các triệu chứng dai dẳng và giới hạn đƣờng thở hoặc phế nang thƣờng do tiếp xúc với hạt và khí độc hại kèm sự phát triển bất thƣờng của phổi, bệnh đồng mắc làm tăng tàn phế và tử vong [39]. Tuy có sự thay đổi khái niệm qua các năm, nhƣng BPTNMT vẫn đƣợc nhấn mạnh là bệnh có thể phòng và điều trị đƣợc. Điều này đã khuyến khích việc nghiên cứu thêm các vấn đề phức tạp giúp khả năng phòng bệnh, tăng cƣờng quản lý bệnh và trở nên có thể điều trị đƣợc.
D ễ ọ Theo kết quả điều tra về gánh nặng y tế toàn cầu, BPTNMT là nguyên nhân gây ra cái chết của 3,17 triệu ca vào năm 2015 chiếm 5% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới. Hơn 90% số ca tử vong này xuất hiện ở các nƣớc có nền kinh tế thấp hoặc trung bình[75]. BPTNMT không những là gánh nặng bệnh tật cho toàn cầu mà còn là gánh nặng đối với nền kinh tế của các quốc gia. Ƣớc tính mỗi năm Châu Âu phải chi khoảng 38,6 tỷ Euro cho công tác quản lý, chẩn đoán và điều trị BPTNMT.
Hàng năm, Mỹ phải dùng để chi trả cho các chi phí liên quan trực tiếp đến BPTNMT vào khoảng 32 tỷ $, và khoảng 20,4 tỷ $ cho các chi phí gián tiếp liên quan đến BPTNMT[39]. Một phân tích tổng hợp các nghiên cứu về tỷ lệ mắc BPTNMT trên toàn thế giới từ năm 1990 đến 2010 của tác giả Davies Adeloye và cộng sự đƣợc xuất bản năm 2015 cho thấy, tỷ lệ mắc BPTNMT trên toàn thế giới đã tăng từ 227,3 triệu ca ở lứa tuổi từ 30 trở lên vào năm 1990 lên tới 384 triệu ca cũng 4 ở cùng lứa tuổi đó vào năm 2010. Theo đó tại các khu vực trên thế giới, tỷ lệ mắc BPTNMT cao nhất là ở Mỹ chiếm tỷ lệ 9,7%.Trong khi đó, các nƣớc Đông Nam Á lại có tỷ lệ số ca mắc BPTNMT thấp nhất với 9,7%.Năm 2010, vùng Địa Trung Hải ghi nhận tỷ lệ mắc BPTNMT tăng 118,7% so với năm 1990. Tiếp đó là các nƣớc Nam Mỹ tỷ lệ mắc tăng ít đƣợc ghi nhận ở các nƣớc Châu Âu[32].
N ữ yế ố y ơ ủ Những yếu tố nguy cơ của BPTNMT bao gồm những loại yếu tố thuộc bản thân ngƣời bệnh và những yếu tố từ môi trƣờng. Bệnh thƣờng khởi phát từ sự tác động qua lại của 2 loại yếu tố này[39] .