ĐẶT VẤN ĐỀ Ngày nay bảo vệ rừng đã trở nên hết sức quan trọng. Vì rừng là một hệ sinh thái hoàn chỉnh, rừng có ảnh hưởng to lớn đến đời sống con người. Chính vì thấy được tầm quan trọng đó nhiều quốc gia trên thế giới đã quan tâm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng một cách bền vững. Từ lâu con người đã khai thác từ rừng những sản vật phục cho nhu cầu của mình như: Hoa quả, thịt thú rừng, gỗ làm nhà và các loại lâm sản phụ khác.
Sự khai thác đó ngày càng tăng đến mức thiên nhiên không thể tự bù đắp được nữa. Do nhiều nguyên nhân như dân số thế giới tăng lên nhiều lần dẫn đến nhu cầu về trồng trọt và chăn nuôi tăng dẫn đến tàn phá rừng để làm đồng cỏ và gieo trồng. Công nghiệp phát triển đòi hỏi nhiều nguyên liệu, giao thông phát triển cũng đẩy nhanh tốc độ tàn phá rừng. Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á.
Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á có tính ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh. Theo số liệu mà Maurand P.công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm 1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ. Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001).
Tính tới hết năm 2010 - 2011 - 2012 với nhiều nỗ lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng thông qua nhiều Chương trình và Dự án, Tỷ lệ che phủ rừng của nước ta đạt 39,5% năm 2010; 40,2% năm 2011; phấn đấu năm 2013 đạt 40,7% (Tình hình thực hiện phát triển kinh tế xã hội năm 2011, 2012 và quý 1 năm 2013) xong chủ yếu là rừng trồng, rừng tự nhiên vẫn suy giảm. Việc mất rừng tự nhiên, dẫn tới đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư. Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật. Khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) Xuân Liên được thành lập năm 1999 theo Quyết định số: 3029/1999/QĐ-UB ngày 17/12/1999 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh 2 Hóa.
Rừng ở khu BTTN Xuân Liên được ghi nhận đa dạng về thành phần loài, về hệ sinh thái và trạng thái rừng với khu hệ động, thực vât quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen. Ngoài ra khu BTTN Xuân Liên còn có giá trị to lớn là khu rừng phòng hộ đầu nguồn của sông Chu, sông Khao, sông Đặt, cung cấp nước sinh hoạt và tưới tiêu cho hơn 86.000 ha lúa, phục vụ công nghiệp cho vùng hạ lưu tỉnh Thanh Hóa.Qua điều tra đã ghi nhận được sự tồn tại của 1.179 loài thực vật bậc cao thuộc 517 chi, 162 họ (trong đó có 45 loài thực vật thuộc sách đỏ Việt Nam và thế giới); về động vật đã ghi nhận được 1.757 loài động vật trong đó có 27 loài thú quý hiếm, 10 loài chim quý hiếm, 15 loài bò sát quý hiếm, 6 loài lưỡng cư quý hiếm, 6 loài côn trùng quý hiếm và 4 loài cá quý hiếm. Xá xị là một loài cây quý, đa tác dụng, hiện được xếp vào loại Rất nguy cấp (CR A1a,c,d) trong Sách đỏ Việt Nam (2007). Mặc dù có giá trị kinh tế và bảo tồn cao, nhưng những nghiên cứu về loài cây này trên thế giới – trong nước còn thiếu, phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài.
Xá xị do có giá trị kinh tế cao nên hiện nay hoạt động khai thác trái phép loài cây này ở Việt Nam đang trở thành điểm nóng. Đặc biệt, vấn đề tái sinh tự nhiên của Xá xị rất kém, số lượng cây ngoài tự nhiên ngày càng giảm nên vấn đề bảo tồn loài này là rất cần thiết. Xá xị ở KBT Xuân Liên là loài đặc trưng của hệ sinh thái rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng nhiệt đới, kiểu rừng này phân bố từ độ cao 800m đến 1600m, nhiều nhất ở Bù Ban phía nam Bản Vịn và một diện tích nhỏ phía tây nam bản Vịn, sau đó là khối núi Bù Gió, Bù Tà Leo, có diện tích 1.753,89 ha, chiếm 7,49% tổng diện tích KBT. Xá xị cùng một số loài khác như Bách xanh, Sến mật là các loài chiếm ưu thế trong các hệ sinh thái rừng nguyên sinh và kiểu rừng rất ít bị tác động ở KBT đã khẳng định giá trị đa dạng sinh học cao của KBT Xuân liên và đây cũng chính là những nguồn gen quý giá cần điều tra, nghiên cứu, bảo vệ và phát triển bền vững.
Nhằm đánh giá thực trạng bảo tồn và làm cơ sở để đề xuất các giải pháp quản lý và phát triển thực vật nguy cấp, quý hiếm. Cho nên tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Xá Xị (Cinnamomum parthenoxylon(Jack) Meisn)tại khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới - Nghiên cứu về phân loại họ Long não (Lauraceae) Trên thế giới, nghiên cứu phân loại các loài thực vật thuộc chi Cinnamomum và họ Lauraceae cho đến nay đã có nhiều tác giả.
Antoine Laurent de Jussieu là nhà Thực vật đầu tiên nghiên cứu, phát hiện và đặt tên họ Long não (Lauraceae) từ năm 1789; còn Jacob Christian Schaeffer là người đầu tiên mô tả, đặt tên chi Cinnamomumnăm 1760.Họ Long não gồm 54 chi, khoảng 3500 loài phân bố chủ yếu ở nhiệt đới, á nhiệt đới Bắc, Nam bán cầu; tập trung ở Đông Nam á và nhiệt đới châu Mỹ.[24] Long não (Cinnamomum) là một chi lớn trong họ Long não (Lauraceae), gồm tới 250 loài phân bố từ đại lục châu Á đến khắp vùng Đông nam Á, Austraylia và khu vực Tây Thái bình dương. Tại miền Nam châu Mỹ chỉ có một số ít loài, nhưng riêng khu vực Malesian đã phát hiện được khoảng 90 loài. Đến nay chỉ có khoảng 150 loài đã được nghiên cứu ở những chừng mực nhất định về từng khía cạnh khác nhau. Xá xị (Cinamomum parthenoxylon (Jack) Meisn) là một loài cây trong họ Long não, được xếp ở nhóm thiếu dữ liệu DD (Data Deficient, ver 2.3) trong danh lục đỏ của IUCN (1994).
Ở Trung Quốc, Xá xị đã được mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái. Các nghiên cứu sâu về loài Xá xị chưa được quan tâm nhiều.[24] - Nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng, khảo nghiệm giống các loài cây họ Long não (Lauraceae) Bảo tồn nguồn gen cây rừng nói chung và loài cây Xá xị nói riêng là bảo tồn các đa dạng di truyền cần thiết cho các loài cây rừng nhằm phục vụ cho công tác cải thiện giống trước mắt hoặc lâu dài, tại chỗ hoặc nơi khác. Mục đích chính của bảo tồn nguồn gen là giữ được vốn gen lâu dài cho công 4 tác cải thiện giống, nên bảo tồn nguồn gen cho bất cứ một loài thực vật nào trước hết cũng là lưu giữ các đa dạng di truyền vốn có của chúng để làm nền cho công tác chọn giống. Cải thiện giống là một trong những vấn đề quan trọng bậc nhất nhằm nâng cao năng suất, chất lượng rừng trồng.
Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mang tính đột phá, là cơ sở quan trọng quyết định tới sự thành công của công tác trồng rừng. Công tác chọn giống và cải thiện giống được quan tâm từ rất sớm và đã đạt những thành tựu đáng kể. Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của công nghệ gen và công nghệ sinh học, công tác chọn, tạo giống và cải thiện giống cây rừng có nhiều cơ hội bứt phá để chọn, tạo ra những giống mới, có năng suất cao đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và thực tiễn sản xuất. Các biện pháp kỹ thuật thâm canh nhằm nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng đã được nhiều nhà nghiên cứu, khoa học trên thế giới quan tâm, Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đề cập đến kỹ thuật thâm canh cho riêng loài cây này.
[18] Một số loài thực vật thuộc các chi Re (Cinnamomum) và chi Bời lời (Litsea) đã được nghiên cứu nhân giống và gieo trồng ở các mức độ khác nhau. Đối với các loài Bời lời như Litsea cubeba, Litsea umbrosa, Litsea citrata. được nhân giống chủ yếu bằng hạt. Ngoài ra, loài Màng tang Litsea cubeba đã có nghiên cứu nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật.
Hiện nay cũng chưa có công bố nào về nhân giống bằng hom cho các loài thuộc chi Bời lời. Gieo trồng các loài thuộc chi Bời lời đã được thực hiện ở một số nước. Tuy nhiên, các tài liệu về lĩnh vực này còn rất ít được công bố.[22, 23] Đối với chi Long não (Cinnamomum), đã được thực hiện nghiên cứu nhân giống và gieo trồng cho một số loài, điển hình như: Long não (Cinnamomum camphora), Re hương (Cinnamomum iners), Cinnamomum kanehirae, Cinnamomum insularimon-tanum.Đối với nhân giống bằng hom, tuỳ từng loài mà tuổi hom, thời gian thu hái, loại chất điều hoà sinh trưởng, loại giá thể, nồng độ hoá chất và thời gian xử lý hoá chất phù hợp khác nhau. 5 Long não (Cinnamomum camphora): dùng hom cành tuổi 1 thì tỷ lệ ra rễ cao nhất, và nếu tuổi hom càng thấp hơn thì tỷ lệ ra rễ cũng thấp hơn.
Re hương (Cinnamomum iners) và Cinnamomum zeylanicum Breyn: Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, hom cành được thực hiện cho kết quả tốt nhất. Đối với Cinnamomum kanehirae: hom cành được thu thập ở cây mẹ 14 tuổi, và xử lý bởi IBA 2000-4000 ppm thì tỷ lệ ra rễ 20-26%.Hạt Long não được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 200C, có thể giữ được sức nảy mầm từ 1-6 tháng.