Tổng quan nghiên cứu

Quần đảo Cát Bà sở hữu diện tích tự nhiên hơn 204 km² với 360 hòn đảo đá vôi lớn nhỏ, được UNESCO chính thức công nhận là Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới vào năm 2004. Nằm ở vị trí địa lý cách ly với đất liền, hệ sinh thái đảo nơi đây từng là sinh cảnh của nhiều loài thú lớn quý hiếm. Tuy nhiên, theo các đợt khảo sát thực địa của Viện Điều tra và Quy hoạch Rừng năm 2005, nhiều loài thú móng guốc và ăn thịt lớn như Nai, Báo hoa mai, Hoẵng và Khỉ mặt đỏ đã hoàn toàn tuyệt chủng cục bộ trên đảo. Hiện nay, Sơn dương (Capricornis milneedwardsii) là loài thú móng guốc lớn duy nhất còn sót lại trong sinh cảnh tự nhiên tại Vườn quốc gia Cát Bà. Loài động vật này được xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007, cấp Sắp bị đe dọa (NT) theo Danh lục đỏ IUCN năm 2015, đồng thời thuộc Phụ lục IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP và Phụ lục I Công ước CITES năm 2015.

Trước thập niên 1990, quần thể Sơn dương từng phân bố rộng khắp các dãy núi đá vôi trên toàn đảo Cát Bà. Do áp lực kéo dài từ các hoạt động săn bắn trộm, đặt bẫy và khai thác lâm sản phụ, số lượng cá thể đã sụt giảm nghiêm trọng, đẩy loài này đến bờ vực tuyệt chủng cục bộ. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là xác định chính xác hiện trạng số lượng cá thể, đặc điểm phân bố không gian theo đai cao và sinh cảnh rừng, đồng thời nhận diện các mối đe dọa trực tiếp để phân vùng bảo tồn ưu tiên. Đề tài được triển khai trong phạm vi toàn bộ diện tích Vườn quốc gia Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng trong thời gian 6 tháng (từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016). Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi thiết lập bộ cơ sở dữ liệu định lượng đầu tiên về 21 đến 23 cá thể Sơn dương còn lại, cung cấp căn cứ chuẩn xác để Ban Quản lý Vườn quốc gia xây dựng phương án tuần tra và bảo vệ nghiêm ngặt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hệ thống phân loại học động vật có vú của Wilson và Reeder (2005), trong đó chi Capricornis được xác định gồm 6 loài trên thế giới, và loài Sơn dương tại Việt Nam mang danh pháp khoa học chính thức là Capricornis milneedwardsii (David, 1869) thuộc bộ Móng guốc ngón chẵn Artiodactyla, họ Trâu bò Bovidae. Cơ sở sinh thái học cá thể và quần thể của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) được sử dụng để phân tích các đặc tính hình thái, tập tính kiếm ăn ban ngày từ 4 đến 5 giờ sáng đến 4 đến 5 giờ chiều, trọng lượng cơ thể khi trưởng thành vượt 150 kg và chu kỳ mang thai kéo dài 210 đến 240 ngày.

Khung lý thuyết bảo tồn tích hợp 4 khái niệm then chốt: đa dạng sinh học hệ sinh thái đảo Karst ngập nước biển, sinh cảnh sống tối ưu, sức chứa môi trường và ngưỡng suy giảm tuyệt chủng cục bộ. Nghiên cứu đối chiếu trực tiếp với các căn cứ pháp lý bảo tồn bao gồm Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; các tiêu chí đánh giá tình trạng bảo tồn của Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 và Danh lục đỏ IUCN năm 2015.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được tích hợp từ các báo cáo chuyên đề quy hoạch Vườn quốc gia Cát Bà giai đoạn 2013-2020 và nguồn dữ liệu điều tra thực địa sơ cấp. Cỡ mẫu phỏng vấn được xác lập gồm 30 cá nhân giàu kinh nghiệm, bao gồm 20 cán bộ kiểm lâm công tác lâu năm tại 5 trạm kiểm lâm và 10 thợ săn có kinh nghiệm đi rừng tại xã Gia Luận – địa bàn có tần suất hoạt động săn bắt cao nhất vùng đệm. Phương pháp chọn mẫu chuyên gia bán định hướng giúp khoanh vùng chính xác các khu vực có dấu vết xuất hiện của loài.

Để điều tra hiện trạng và phân bố, nghiên cứu đã thiết lập hệ thống 13 tuyến khảo sát thực địa với chiều dài dao động từ 6,0 km đến 12,5 km mỗi tuyến (tổng cự ly khảo sát thực địa đạt hơn 120 km) trải đều qua 5 phân khu trọng điểm: Giỏ Cùng, Vạn Tà, Trà Báu, Trung tâm Vườn quốc gia và Gia Luận. Do đặc tính nhút nhát và số lượng cá thể ngoài tự nhiên rất ít, phương pháp nhận diện gián tiếp qua dấu vết (phân, vết chân móng guốc, vết chà sát vỏ cây, bãi nằm ngủ trong hang đá) bằng máy định vị GPS kết hợp thước đo chuyên dụng là lựa chọn tối ưu, đảm bảo tính khả thi cao. Mối đe dọa sinh cảnh được phân hạng định lượng theo mô hình của Margoluis và Salafsky (2001) dựa trên 3 tiêu chí: phạm vi không gian, cường độ tác động và tính khẩn cấp. Dữ liệu thực địa được xử lý không gian và trực quan hóa thành 5 bản đồ chuyên đề thông qua phần mềm MapInfo.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa đã ghi nhận tổng cộng 21 cá thể Sơn dương phân bố co cụm tại 5 khu vực biệt lập trong vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn quốc gia Cát Bà, với kích thước quần thể toàn đảo ước tính dao động từ 21 đến 23 cá thể. Khu vực Vạn Tà ghi nhận số lượng cá thể đông nhất với 6 cá thể (chiếm 28,6% tổng đàn), tiếp theo là khu vực Gia Luận và Giỏ Cùng mỗi nơi có 5 cá thể (chiếm 23,8%), khu vực Trà Báu có 4 cá thể (chiếm 19,0%) và khu vực Đỉnh Ngự Lâm gần Trung tâm Vườn chỉ ghi nhận duy nhất 1 cá thể đơn độc (chiếm 4,8%).

Về phân bố theo đai cao, trong tổng số 115 dấu vết ghi nhận ngoài thực địa:

  • Đai cao từ 101m đến 200m ghi nhận mật độ dày đặc nhất với 61 dấu vết, chiếm 53,0% tổng số ghi nhận.
  • Đai cao từ 1m đến 100m ghi nhận 51 dấu vết, chiếm tỷ lệ 44,4%.
  • Đai cao từ 201m đến 300m (gần các đỉnh cao hiểm trở như Cao Vọng 322m) chỉ ghi nhận 3 dấu vết, chiếm tỷ lệ rất thấp 2,6%.

Về phân bố theo sinh cảnh, trong tổng số 114 dấu vết sinh thái được phân loại:

  • Sinh cảnh Rừng thứ sinh nghèo thường xanh mưa ẩm trên núi đá vôi chiếm vị trí áp đảo với 60 dấu vết, đạt tỷ lệ 52,6%.
  • Sinh cảnh Cây bụi, cây tái sinh trên núi đá vôi ghi nhận 28 dấu vết, chiếm 24,5%.
  • Sinh cảnh Rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh trên núi đá vôi ghi nhận 15 dấu vết, chiếm 13,4%.
  • Sinh cảnh Núi đá trọc ghi nhận 6 dấu vết, chiếm 5,9%.
  • Sinh cảnh Rừng phục hồi trên núi đá vôi ghi nhận 4 dấu vết, chiếm 3,5%.
  • Sinh cảnh Rừng phụ thứ sinh tre nứa phục hồi sau nương rẫy chỉ ghi nhận 1 dấu vết duy nhất, chiếm 0,1%.

Thảo luận kết quả

Sự tập trung của 53,0% dấu vết ở đai cao 101-200m và 52,6% dấu vết tại sinh cảnh rừng thứ sinh nghèo thể hiện rõ tập tính thích nghi và chiến lược sinh tồn của Sơn dương trước áp lực ngoại cảnh. Đai cao lưng chừng núi đá vôi là nơi tập trung nhiều hang hốc tự nhiên và mái đá nhô ra, cung cấp điểm ngủ nghỉ an toàn để nhai lại sau khi kiếm ăn, đồng thời tạo khoảng cách an toàn đối với các thung lũng canh tác nông nghiệp ở chân núi. Yếu tố mùa khí hậu tác động trực tiếp đến sự dịch chuyển theo đai cao: vào mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9), Sơn dương di chuyển lên các đỉnh núi thoáng gió để tránh các loài côn trùng hút máu như mòng và muỗi; vào mùa khô và lạnh (tháng 10 đến tháng 4 năm sau), chúng di chuyển xuống sườn núi thấp để tránh gió mùa Đông Bắc và tìm kiếm nguồn chồi non dồi dào.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện sự biến thiên số lượng dấu vết theo 3 cấp đai cao và biểu đồ tròn biểu diễn tỷ lệ % chiếm dụng giữa 6 dạng sinh cảnh rừng. Bảng ma trận xếp hạng mối đe dọa cho thấy áp lực khai thác củi đun với sản lượng ước tính khoảng 2.220 ster/năm tại các xã vùng đệm cùng hoạt động đặt bẫy dây phanh kim loại là hai yếu tố đe dọa nguy hiểm nhất. So với các ghi nhận lịch sử trước năm 1990 khi loài còn phân bố đại trà, sự suy giảm chỉ còn 21 cá thể tại Cát Bà phản ánh nguy cơ tuyệt chủng rất cao, đòi hỏi sự can thiệp bảo tồn cấp bách tương tự các nghiên cứu cảnh báo tại Malaysia và miền trung Trung Quốc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo tồn bền vững quần thể Sơn dương cuối cùng tại đảo Cát Bà, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  1. Thiết lập và bảo vệ nghiêm ngặt 3 phân vùng ưu tiên cốt lõi: Tập trung tối đa nguồn lực kiểm lâm tuần tra chuyên trách tại Vạn Tà, Gia Luận và Giỏ Cùng – nơi cư ngụ của hơn 76% tổng số cá thể. Hạt Kiểm lâm Vườn quốc gia cần duy trì tối thiểu 24 đợt tuần tra rừng mỗi tháng nhằm tháo gỡ triệt để 100% các loại bẫy săn trái phép trong giai đoạn 2016-2018.
  2. Kiểm soát hoạt động khai thác củi và chuyển đổi sinh kế vùng đệm: Ủy ban nhân dân huyện Cát Hải phối hợp với Ban Quản lý Vườn triển khai các mô hình khí sinh học biogas và hỗ trợ bếp tiết kiệm năng lượng cho các hộ dân tại xã Gia Luận và Trân Châu. Mục tiêu cụ thể là cắt giảm tối thiểu 50% khối lượng củi khai thác tự nhiên (tương đương giảm hơn 1.100 ster củi/năm) trước năm 2020.
  3. Hiện đại hóa công nghệ giám sát đa dạng sinh học: Phòng Khoa học Kỹ thuật Vườn quốc gia Cát Bà cần chủ trì lắp đặt hệ thống 30 trạm bẫy ảnh hồng ngoại tự động tại các phén núi và nguồn nước xuất lộ, kết hợp thu thập mẫu phân tươi để phân tích mã vạch ADN. Lộ trình thực hiện trong giai đoạn 2017-2020 nhằm xác định chính xác cấu trúc tuổi và tỷ lệ đực cái của đàn.
  4. Tăng cường thực thi pháp luật và kiểm soát chuỗi tiêu thụ: Đội Kiểm lâm Cơ động phối hợp cùng Công an huyện Cát Hải tổ chức ký cam kết đối với 100% các nhà hàng ẩm thực và cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn huyện, kiên quyết xử lý các hành vi tàng trữ thịt động vật hoang dã và rượu ngâm xương Sơn dương, phấn đấu chấm dứt hoàn toàn vi phạm vào năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị tham khảo thực tiễn cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban quản lý các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên núi đá vôi: Cán bộ quản lý có thể ứng dụng trực tiếp quy trình khoanh vùng ưu tiên bằng MapInfo và phương pháp đánh giá hiểm họa của Margoluis & Salafsky để xây dựng phương án quản lý bảo tồn các loài thú móng guốc nguy cấp.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý Tài nguyên Rừng: Các nhà khoa học có thể sử dụng hệ thống số liệu định lượng về 13 tuyến khảo sát và đặc tính sinh thái đai cao của loài làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy môn Bảo tồn Đa dạng Sinh học và Sinh thái học Động vật rừng.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Lâm nghiệp, Khoa học Môi trường: Cung cấp case-study thực tế chuẩn mực về phương pháp kết hợp phỏng vấn 30 người dân địa phương với kỹ thuật ghi nhận dấu vết thực địa bằng GPS khi nghiên cứu các loài thú quý hiếm có mật độ quần thể thấp.
  • Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn quốc tế: Các chuyên gia phát triển dự án của IUCN, WWF hay FFI có thể khai thác dữ liệu hiện trạng 21 cá thể Sơn dương để lập hồ sơ đề xuất các chương trình tài trợ bảo tồn khẩn cấp sinh cảnh Karst tại miền Bắc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Hiện trạng quần thể loài Sơn dương tại Vườn quốc gia Cát Bà đang ở mức báo động nào?

Quần thể Sơn dương Cát Bà hiện đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cục bộ rất cao với số lượng ước tính chỉ còn khoảng 21 đến 23 cá thể. Loài đã hoàn toàn biến mất ở nhiều thung lũng và hiện chỉ còn ghi nhận rải rác tại 5 khu vực được bảo vệ nghiêm ngặt như Vạn Tà, Gia Luận, Giỏ Cùng, Trà Báu và Đỉnh Ngự Lâm.

Tại sao nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra gián tiếp qua dấu vết thay vì quan sát trực tiếp?

Do số lượng cá thể Sơn dương còn lại quá ít (chỉ khoảng 21 cá thể), tập tính loài cực kỳ cảnh giác trước con người kết hợp với địa hình núi đá vôi Karst cheo leo, hiểm trở. Do đó, việc thu thập dữ liệu gián tiếp qua phân, dấu chân, vết chà sát và bãi nằm ngủ trên 13 tuyến khảo sát là phương pháp tối ưu, mang lại độ tin cậy khoa học cao nhất.

Đai cao nào là không gian sống và kiếm ăn ưa thích nhất của Sơn dương Cát Bà?

Đai cao từ 101m đến 200m là sinh cảnh hoạt động chủ yếu của Sơn dương, chiếm 53,0% tổng số dấu vết ghi nhận thực địa (61/115 dấu vết). Độ cao này nằm ở sườn và gần đỉnh núi, nơi có nhiều hang hốc trú ẩn an toàn, nguồn thức ăn chồi cây phong phú và hoàn toàn cách biệt với các hoạt động canh tác nông nghiệp của con người.

Kiểu thảm thực vật nào chiếm tỷ lệ xuất hiện dấu vết Sơn dương cao nhất trong khu vực nghiên cứu?

Sinh cảnh Rừng thứ sinh nghèo thường xanh mưa ẩm trên núi đá vôi ghi nhận mật độ xuất hiện cao nhất, chiếm 52,6% tổng số dấu vết (60/114 dấu vết). Kiểu rừng này có diện tích 4.900,2 ha trên đảo Cát Bà, sở hữu tầng cây bụi và dây leo tái sinh phong phú, cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho loài móng guốc.

Tác động nhân sinh nào đe dọa trực tiếp nhất đến sự sinh tồn của Sơn dương tại Cát Bà?

Hoạt động săn bắt bằng bẫy dây thép và việc người dân khai thác khoảng 2.220 ster củi đun mỗi năm tại các xã vùng đệm là hai mối đe dọa nghiêm trọng nhất. Các hoạt động này làm suy thoái, phân mảnh sinh cảnh sống tự nhiên và trực tiếp gây sát thương, làm suy giảm số lượng cá thể Sơn dương còn sót lại.

Kết luận

  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu thực địa định lượng đầu tiên chứng minh quần thể Sơn dương tại Vườn quốc gia Cát Bà chỉ còn khoảng 21 đến 23 cá thể, co cụm tại 5 phân khu biệt lập.
  • Chứng minh quy luật phân bố không gian đặc trưng của loài với 53,0% dấu vết tập trung ở đai cao 101-200m và 52,6% dấu vết thuộc sinh cảnh rừng thứ sinh nghèo trên núi đá vôi.
  • Định lượng chi tiết các áp lực đe dọa chính từ nạn bẫy bắt thú rừng và áp lực khai thác 2.220 ster củi/năm từ các cộng đồng dân cư vùng đệm.
  • Xây dựng thành công 5 bản đồ chuyên đề bằng phần mềm MapInfo, phân định rõ ràng 3 phân khu bảo tồn ưu tiên hàng đầu gồm Vạn Tà, Gia Luận và Giỏ Cùng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện kết hợp giữa tuần tra nghiêm ngặt, chuyển đổi sinh kế vùng đệm, ứng dụng bẫy ảnh và phân tích di truyền học ADN.

Trong giai đoạn tiếp theo, Ban Quản lý Vườn quốc gia Cát Bà cùng Chi cục Kiểm lâm Hải Phòng cần nhanh chóng phê duyệt và thực hiện đề án giám sát quần thể Sơn dương bằng công nghệ bẫy ảnh và phân tích ADN phân tươi. Các cơ quan quản lý, nhà khoa học và cộng đồng địa phương hãy cùng chung tay hành động quyết liệt để bảo vệ những cá thể Sơn dương cuối cùng, giữ gìn biểu tượng đa dạng sinh học quý giá của Khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới Cát Bà!