Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Phân loại học Sơn dương Theo các nguyên tắc phân loại của Wilson và Reeder (2005), giống Capricornis đã xác định được 06 loài (bảng 1.1: Phân loại giống Sơn dương theo Winson và Reeder (2005) STT Tên Khoa học Phân bố 1 Capricornis crispus Nhật Bản Capricornis milneedwardsii Trung Quốc và các nước 2 Đông Nam Á (Việt Nam) 3 Capricornis rubidus Myanmar Capricornis sumatraensis Indonesia, Malaysia và miền 4 nam Thái Lan Capricornis swinhoei Đài Loan, một số tỉnh của 5 Trung Quốc 6 Capricornis thar dọc theo dãy Himalaya Loài Sơn Dương (Capricornis milneedwardsii) có vị trị trí phân loại như sau: Giới (Kingdom) Animalia Ngành (phylum) Chordata Lớp (class) Mammalia Bộ (order) Artiodactyla (Móng guốc ngón chẵn) Họ (family) Bovidae (Trâu Bò) Chi (genus) Capricornis Loài (species) C. milneedwardsii Trong luận văn này sẽ sử dụng tên khoa học của loài Sơn dương là (Capricornis milneedwardsii , David, 1869). Đây là tên khoa học được nhiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 nhà khoa học và tài liệu sử dụng cho loài Sơn dương ở Việt Nam hiện nay (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009; Francis, 2008; Đặng Huy Huỳnh et al.
Phân bố của loài Sơn dương (Capricornis milneedwardsii ) 1. Phân bố trên thế giới Sơn dương chủ yếu phân bố ở Myanmar, Campuchia, phía nam và miền trung Trung Quốc (dãy Himalaya và phía đông Tây Tạng, phía nam Cam Túc đến Chiết Giang và phía nam đến Vân Nam), Lào, Thái Lan, và Việt Nam. Bản đồ phân bố của Sơn dương được trình bày trên hình 1.1: Phân bố của loài Sơn dương (Capricornis milneedwardsii). Phân bố ở Việt Nam Ơ Việt Nam phạm vi phân bố của chúng rất rộng, chúng từng phân bố từ biên giới giáp Trung Quốc tới tận nam Tây Nguyên, đổ dài từ các tỉnh phía Bắc như Sơn La, Cao Bằng, Lai Châu, Phú Thọ, Lạng Sơn, Hải Phòng đến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009 [4]; SĐVN, 2007[2]).
Đặc điểm sinh học và sinh thái 1. Đặc điểm hình thái Sơn Dương là loài thú lớn. Con trưởng thành trên 150kg. Hình dáng gần giống Nai, trên đỉnh đầu có đám lông dài tạo thành bờm, có những chùm lông dài phủ từ tai đến góc miệng.
Cả đực và cái đều có sừng ngắn không dài quá 30 cm, sừng hình ống tròn có nhiều nếp ngang úp vào xương sừng, nút sừng nhọn cong về phía sau, sừng không phân nhánh. Toàn thân phủ lông dầy, dài, cứng, màu xám đen hoặc xám tro. Từ trán đến vai lông rất dài tạo thành bờm. Đuôi rất ngắn [2] 1.
Sinh thái và tập tính Sinh cảnh sống: Sơn dương sống trong kiểu rừng trên núi đá ở đảo Cát Bà. Tuy nhiên, nơi sống của chúng rất khác nhau: rừng giàu, rừng nghèo và thậm chí cả ở những chỗ núi đá trọc có cây bụi và dây leo (Đỗ Tước, Đặng Thăng Long, Nguyễn Hữu Tùng (2006)[13] Nơi ở: Sơn Dương sống ở những vùng rừng núi đá vôi ở độ cao 50 - 200m so với mặt biển. Nơi ở trú ẩn thường là hang hốc đá [2] Thức ăn: Sơn Dương kiếm ăn ở lưng chừng núi đá và cả trên đỉnh núi. Thức ăn là cỏ, lá cây, cành cây nhỏ, mầm cây, quả cây, rêu và địa y trên vách đá [2] Di chuyển và kiếm ăn: Hoạt động ban ngày từ 4 - 5 giờ sáng đến 4 - 5 giờ chiều.
Vùng hoạt động cá thể không lớn và ổn định lâu dài nên dễ bị săn bắn và bẫy bắt [2] Tập tính xã hội: Sống thành từng nhóm 3 - 4 cá thể, con già thường sống đơn độc. Kẻ thù của Sơn dương (với con non) là thú ăn thịt cỡ lớn: Hổ, Báo…[2]. Chống lại kẻ thu bằng cách sử dụng sừng của nó. Đi lại, nhảy trên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 núi đá rất giỏi và bước nhảy rất chính xác, Bơi lội rất tốt.
Đường di chuyển được đánh dấu bằng các dấu vết như dấu phân, dấu cà và mùi hôi đặc trưng. Sinh Sản: Mùa sinh sản tập trung vào tháng 3 - 4. Động dục và ghép đôi vào tháng 8 – 10. Thời gian có chửa 210 - 240 ngày.
Mỗi năm một lứa, mỗi lứa 1 con. Tuổi động dục của Sơn Dương cái trong khoảng 30 – 36 tháng tuổi [2]. Bảo tồn loài Sơn dương 1. Bảo tồn ở trên thế giới Mặc dù có vùng phân bố rộng, loài Sơn Dương cũng đang đối mặt với những đe doạ to lớn và luôn thay đổi, tác động của mỗi quần thể phụ thuộc vào vị trí phân bố (Shackleton, 1997).
Sơn dương bị săn bắt nhiều để lấy thịt và da cũng như các phần khác của cơ thể, thường chúng được tin rằng có giá trị làm thuốc (Nowark, 1999). Suy giảm sinh cảnh cũng là một đe doạ đáng e ngại, với khai thác và phá rừng để có đất canh tác đã ảnh hưởng rất lớn đến sinh cảnh của Sơn dương ở nhiều vùng, và khai thác khoáng sản có thể tác động sinh cảnh của nhiều quần thể ở Malaysia (Shackleton, 1997). Các mối đe doạ khác bao gồm một số lượng lớn về mìn ở Campuchia, và tuyết lở ở vùng núi của Nepal, đã làm chết một số lượng lớn cá thể trong suốt mùa động khi có tuyết rơi. Sơn dương cũng bị đánh bẫy và bắn ở các nước Đông Nam Á (Nowrk, 1999).
Những hòn đảo nhỏ ở Malaysia và Sumatra loài Sơn dương (Capricornis sumatraensis) đang bị đe doạ nặng nề vì mất sinh cảnh và hiện tượng săn bắt. Bảo tồn Sơn dương ở Việt Nam Ở Việt Nam, theo các chuyên gia về thú lớn báo cáo rằng, Sơn dương chỉ phân bố ở các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên từ miền Bắc vào tới tỉnh Kon Tum, điển hình là các khu vực có núi đá vôi [1]. Hiện chưa có một báo cáo đánh giá chính thức về tình trạng phân bố của loài ở các khu vực trên. Tuy nhiên, theo thông tin từ mạng lưới bảo tồn của Việt Nam thì loài Sơn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dương đang đứng bên bờ tuyệt chủng, thậm chí nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn được bảo vệ nghiêm ngặt nhưng tình trạng bẫy bắt vẫn diễn ra thường xuyên và phổ biến.
Bảo tồn Sơn dương ở Cát Bà Tại Thành phố Hải Phòng, cụ thể ở Cát Bà cho tới nay có nhiều chương trình nghiên cứu về khu hệ động vật. Tuy nhiên, hầu hết những chương trình nghiên cứu chỉ tập trung đánh giá tính đa dạng về thành phần loài trên đảo Cát Bà, chỉ có Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà nghiên cứu chuyên sâu về số lượng cá thể của loài Voọc Cát Bà. Ngoài ra không có một chương trình nào đánh giá chuyên sâu về vấn đề này, kể cả các loài thú đang có nguy cấp cao, trong đó có loài Sơn dương.[8] Do thông tin về tình trạng loài, phân bố, các mối đe dọa rất ít và thiếu nên công tác quản lý và bảo tồn loài Sơn dương tại VQG Cát Bà đang gặp nhiều khó khăn, chưa thể đưa ra các biện pháp và chương trình hành động cụ thể để bảo tồn loài một cách hiệu quả. Nhiều khu vực đã xảy ra tình trạng cục bộ loài Sơn dương.
Loài Sơn dương có thể biến mất khỏi Đảo Cát Bà trong tương lai nếu chúng ta không có một giải pháp hữu hiệu và có cơ sở khoa học để quản lý và bảo tồn loài cũng như sinh cảnh của chúng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu tổng quát Xây dựng cơ sở dữ liệu về loài, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học của loài Sơn dương trên đảo Cát Bà huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
Mục tiêu cụ thể - Xác định được hiện trạng của loài Sơn dương tại khu vực nghiên cứu. - Xác định được sự phân bố của Sơn dương theo độ cao và sinh cảnh - Xác định các mối đe dọa tới loài Sơn dương. - Đề xuất được các giải pháp quản lý bảo vệ hiệu quả loài Sơn dương trong Vườn Quốc gia Cát Bà. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Loài Sơn Dương (Capricornis milneedwardsii David, 1869 ) tại Vườn quốc gia Cát Bà.
- Phạm vi nghiên cứu + Phạm vi về không gian: Tại Vườn quốc gia Cát Bà + Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu trong 6 tháng từ tháng 11/2015 đến tháng 4/2016. Nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu hiện trạng loài Sơn dương tại VQG Cát Bà. - Nghiên cứu sự phân bố của Sơn dương theo độ cao và sinh cảnh tại VQG Cát Bà. - Nghiên cứu và đánh giá các mối đe dọa đến loài Sơn dương tại VQG Cát Bà.
- Đề xuất được một số giải pháp cho công tác bảo tồn Sơn dương tại tại VQG Cát Bà. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Phương pháp nghiên cứu 2. Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp Thu thập tất cả các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
Sau đó tiến hành rà soát, đánh giá và kế thừa có chọn lọc các thông tin. Các tài liệu thu thập bao gồm: - Báo cáo Kết quả quy hoạch bảo tồn và phát triển bền vững Vườn Quốc gia Cát Bà đến năm 2020; - Báo cáo chuyên đề khu hệ động vật Vườn quốc gia Cát Bà năm 2013; - Báo cáo chuyên đề khu hệ thực vật Vườn Quốc gia Cát Bà năm 2013; - Báo cáo chuyên đề du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Cát Bà năm 2013; - Báo cáo chuyên đề dân sinh kinh tế xã hội huyện Cát Hải năm 2013; - Bản đồ quy hoạch sử dụng đất, bản đồ Quy hoạch Vườn Quốc gia Cát Bà năm 2013; - Số liệu: Dân sinh – Kinh tế - Xã hội. Cục thống kê huyện Cát Hải; - Bản đồ phân bố động vật nguy cấp quý hiếm Vườn Quốc gia Cát Bà năm 2013; - Các nghiên cứu, dự án thực hiện trong Vườn quốc gia Cát Bà; - Báo cáo tổng kết các năm của Hạt Kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Bà; - Các văn bản pháp lý và chính sách có liên quan. Phương pháp phỏng vấn Mục đích của phương pháp này là nhằm thu thập các thông tin sơ bộ về hiện trạng, phân bố cũng như các mối đe dọa đến loài và sinh cảnh của các loài Sơn dương.
Tiến hành phỏng vần 30 người. Trong đó có 20 cán bộ kiểm lâm VQG Cát Bà và 10 người dân đang sinh sống tại xã Gia Luận đây là xã có số lượng thợ săn nhiều nhất trong các xã vùng đệm của Vườn. Danh sách người tham gia phỏng vấn được trình bày tại (Phụ lục: 03). Đối tượng phỏng vấn là những người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.