ĐẶT VẤN ĐỀ Bảo vệ đa dạng sinh học theo nguyên tắc bền vững là quan điểm xuyên suốt của công tác bảo tồn và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên vô giá của chúng ta. Trong hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học, khi một loài thực vật nào đó bị tuyệt chủng cũng đều đƣợc coi là dấu hiệu đáng báo động cho sự tổn thất về đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng. Vì vậy việc ngăn ngừa sự tuyệt chủng của một loài thực vật trƣớc khi nó xảy ra là nhiệm vụ hàng đầu của công tác bảo tồn đa dạng sinh học. Nằm trong hệ thống các khu Vƣờn Quốc Gia của Việt Nam, Pù Mát là một hệ sinh thái vô cùng đặc biệt và quan trọng trong nƣớc, nó có chứa đựng nguồn tài nguyên sinh học rất lớn.
Nhiều loài động thực vậtquý hiếm đã đƣợc tìm thấy và bảo vệ nơi đây trong đó có loài Sến mật. Sến mật là cây gỗ tốt, cứng, màu đỏ nâu khi khô bị nứt nẻ, đƣợc sử dụng trong xây dựng, đóng tàu thuyền. Sến mật đƣợc xếp vào nhóm gỗ tứ thiết. Hạt chứa 30 - 55 %, dầu béo dùng để ăn hay dùng cho một số ngành công nghiệp.
Là cây gỗ có nguồn gen quí hiếm đƣợc phân hạng ở cấp EN A1a,c,d đã đƣợc ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [1]. Sến mật hiện đã đƣợc bảo vệ ở một số khu bảo tồn thiên nhiên và một số vƣờn quốc gia. Song cũng chƣa thật an toàn vì vẫn bị khai thác trái phép không có kế hoạch, và đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên nếu không có biện pháp bảo tồn kịp thời. Qua các kết quả điều tra, nghiên cứu về đa dạng thực vật đã khẳng định, Sến mật có phân bố ở một số vùng thuộc Vƣờn Quốc Gia Pù Mát.
Tuy nhiên, các thông tin, các dẫn liệu khoa học và các nghiên cứu chuyên sâu về loài cây quý hiếm này chƣa có nhiều. Xuất phát từ những lý do trên tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu bảo tồn loài Sến mật (Madhuca pasquieri (Dubard) H. Lam) tại vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An” để bổ sung thông thêm tin về thực trạng tài nguyên rừng góp phần bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng tại Vƣờn Quốc Gia Pù Mát. 1 PHẦN I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới. Nghiên cứu về sinh thái học thực vật. Sinh thái học thực vật là môn khoa học rộng nhất so với tất cả các môn khoa học sinh vật và nó cũng là khoa học phát triển nhất, bao trùm, tổng hợp nhất. Thuật ngữ sinh thái học đƣợc E.
Hackel đƣa ra vào năm 1866, thuật ngữ này có nguồn gốc từ chữ Hi Lạp “Oikos” nghĩa là “nhà tự nhiên” hoặc là “nơi ở” đối với con ngƣời và động vật còn đối với thực vật là “nơi mọc”, còn logos là môn học. Nhƣ vậy Oikos logos là môn học nghiên cứu về nơi ở, nơi mọc hay về môi trƣờng sống của sinh vật. Chính vì vậy có thể định nghĩa “Sinh thái học là khoa học nghiên cứu về mối quan hệ qua lại giữa các sinh vật với nhau và giữa chúng với hoàn cảnh xung quanh”. [2] Cácphƣơng pháp thực nghiệm và sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đã đƣợc trình bày trong “Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen, D.
Lache (1987) đã đƣợc chỉ rõ vấn đề nghiên cứu trong sinh thái học thực vật nhƣ sự thích nghi của các điều kiện: dinh dƣỡng khoáng, ánh sáng, chế độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu.P Odum (1975) đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật học hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với môi trƣờng cũng đƣợc đặc biệt chú ý. Ngoài ra mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng phƣơng pháp toán học thƣờng gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật tƣơng quan phức tạp trong tự nhiên. [2] Trong học thuyết các kiểu rừng G.F Modorop đã hình thành lý luận cơ bản về sinh thái rừng và các kiểu rừng: “Đời sống của rừng có thể được hiểu trong mối quan hệ với điều kiện hoàn cảnh và trong đó quần xã thực vật rừng 2 tồn tại và quần xã này luôn luôn chịu tác động trực tiếp của các nhân tố sinh thái trong hoàn cảnh đó”.
Ông cho rằng điều kiện tiên quyết, quyết định hình thành rừng là đặc điểm sinh thái học của loài cây gỗ. [2] Trong lâm nghiệp nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu về sinh thái rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp tác động hợp lý và xây dựng thành hệ thống kỹ thuật lâm sinh. Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Rừng mƣa nhiệt đới – Baur (1974). Trên cơ sở nghiên cứu sinh thái rừng mƣa, Geoge N.
Baur đã tổng kết các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng và phân loại các biện pháp theo mục đích nhằm đem lại rừng căn bản đều tuổi, không đều tuổi, các phƣơng pháp xử lí cải thiện. Vài nét về họ Sapotaceae Sapotaceae là họ thực vật có hoa, thuộc bộ Ericales. Họ bao gồm khoảng 800 loài cây thƣờng xanh và cây bụi trong khoảng 65 chi (35-75, tùy thuộc vào sự phân loại chi), phân bố ở các vùng nhiệt đới. Nhiều loài cây cho quả có thể cho quả ăn đƣợc hoặc sử dụng với mục đích kinh tế khác.
Những loài ghi nhận co thể cho quả ăn đƣợc bao gồm Manilkara (Sapoche, Sapota), Chrysophyllum cainito (cây vú sữa hoặc golden leaftree), Pouleria (Abiu, Canisetel, Lucuma, Mameysapote), Vitellaria paradoxa (Shea) và Sideroxylon australe (có nguồn gốc mận). Shea (Shi trong một số ngôn ngữ Tây Phi và Karite Pháp; nhƣ cây hạt mỡ) quả hạch nhiều giàu, có thể ăn đƣợc là nguồn lipid lớn đối với nhiều ngƣời châu Phi và cũng đƣợc sử dụng làm mỹ phẩm và thuốc truyền thống. “Quả lạ” Synseplum dulcificum thuộc họ Sapotaceae. Cây thuộc chi Paloquium (Guta- percha) cho nhựa mủ quan trọng và có nhiều giá trị sử dụng.
Tại Việt Nam. Về phương pháp nghiên cứu. Việt Nam cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu về sinh thái học của thực vật, có thể kể đến một sốtác giả sau: Nguyễn Bá Chất (1996), trong “Nghiên cứu một số đặc điểm lâm học và biện pháp kĩ thuật gây trồng nuôi dƣỡng cây Lát hoa (Chukrasia tabularis Juss) đã kết luận: Những vấn đề kĩ thuật lâm sinh thực là những vấn đề bức thiết để khôi phục và phát triển rừng. [3] 3 Lê Mộng Chân với công trình: “Nghiên cứu đặc tính sinh vật học một số loài cây rừng địa phƣơng làm cơ sở chọn loài cây kinh doanh gỗ trụ mỏ ở khu Đông Bắc” (Tóm tắt một số kết quả nghiên cứu khoa học 1985-1989 Trƣờng Đại học Lâm nghiệp) cho rằng nghiên cứu đặc tính loài là nghiên cứu các đặc tính: Tổ thành loài cây, kết cấu rừng, sinh trƣởng bình quân về đƣờng kính và chiều cao, hình thái, nguồn giống và phân bố.
[4] Lê Phƣơng Triều (2003), trong “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai Lý (Garcinia fagraeoides A.) tại Vƣờn Quốc Gia Cúc Phƣơng” cũng đã cho rằng nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý là nghiên cứu về hình thái, tổ thành loài cây mọc cùng, kết cấu rừng và phân bố. [5] Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn nhiều công trình nghiên cứu khác về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của nhiều loài cây gỗ quý và có giá trị cao về mặt kinh tế. Phần lớn các tác giả tập trung nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học nhằm phục vụ cho công tác trồng rừng, nuôi dƣỡng và làm giàu rừng tại một số vùng sinh thái nhất định. Các công trình nghiên cứu về cây Sến mật.
Năm 1993, Đặng Văn Hải đã có công trình nghiên cứu: “Tìm hiểu tình hình sinh trƣởng, sản lƣợng quả về một số chỉ tiêu chất lƣợng hạt Sến mật tại Tam Quy – Hà Trung – Thanh Hóa”. Trong công trình này tác giả đã có những nhận xét đánh giá nhất định về tình hình sinh trƣởng của rừng Sến mật tại Tam Quy và sơ bộ xác định sản lƣợng quả hạt. Đỗ Văn Vui (1994) đã có nghiên cứu: “Bƣớc đầu thử nghiệm chọn giống Sến có sản lƣợng cao tại Tam Quy – Thanh Hóa”. Lang Văn Báu (1995) có nghiên cứu: “Tìm hiểu đặc tính sinh vật học của loài Sến mật tại khu vực Con Cuông, Nghệ An”.
[6] Trần Anh Tuấn (1995) đã có nghiên cứu: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số chất điều hòa sinh trƣởng đến sự ra rễ của cành chiết Sến mật”. Trƣơng Thanh Khai (1996) khi nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Sến mật tại khu vực Phong Nha – Quảng Bình đã đi sâu tìm hiểu khả năng tái sinh của loài Sến mật ở rừng tự nhiên Phong Nha – Quảng Bình. [7] 4 Nguyễn Văn Huệ (1996) đã có nghiên cứu: “Nghiên cứu ảnh hƣởng của mức độ che bóng và phân bón đến sinh trƣởng của loài Sến mật (Madhuca pasquieri H.Lam) 7 tháng tuổi tại vƣờn ƣơm trƣờng Đại học Lâm nghiệp”. Nguyễn Thành Thuân (1997) đã có bƣớc đầu nghiên cứu đặc tính lâm họ của loài Sến mật (Madhuca pasquieri H.Lam) tại Tam Quế - Hà Trung – Thanh Hóa.
[8] Bùi Dân Tạo (1999) khi nghiên cứu mối quan hệ của Sến mật mọc thuần loài với một số tính chất của đất ở độ sâu từ 0 – 10 cm, tại đồi Ca tê xã Tam Quy tỉnh Thanh hóa đã đi sâu tìm hiểu mối quan hệ ảnh hƣởng qua lại của các chỉ tiêu sinh trƣởng (D1.3, Hvn, V) với tính chất đất. Khúc Thành Liêm, Phạm Quang Vinh (1999) đã có nghiên cứu: “Nghiên cứu phẩm chất gieo ƣơm hay giống cho 10 loài cây rừng đang đƣợc gây trồng phổ biến ở các tỉnh phía bắc Việt Nam, bƣớc đầu nghiên cứu ảnh hƣởng của độ che sáng và phân bón đến sinh trƣởng của cây Sến mật tại giai đoạn vƣờn ƣơm”. Nguyễn Ngọc Quân (2001) đã có nghiên cứu: “Xác định nhu cầu chất đốt và đánh giá tiềm năng của việc cung cấp chất đốt thực vật cho dân cƣ vùng tiếp giáp rừng đặc dụng Sến mật – Tam Quy – Thanh Hóa”. Công ty giống Lâm nghiệp Trung ƣơng thuộc cục Lâm nghiệp – Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn khi nghiên cứu để phát triển giống Sến đã có những thông tin về kĩ thuật gây trồng loài Sến nhƣ sau: Tại Thanh Hóa quả Sến mật chín vào tháng 2 – 3.
Quả hình cầu khi chín chuyển từ màu xanh sang màu nâu thẫm, thịt quả mềm có mùi thơm. Tại khu vực nghiên cứu.