ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng tự nhiên đang ngày càng bị thu hẹp về diện tích, suy giảm chất lƣợng, trữ lƣợng. Rừng nghèo, đất trống, đồi núi trọc tăng lên do hoạt động khai thách chặt phá, đốt nƣơng làm rẫy, sử dụng rừng không hợp lý. Gỗ và các tài nguyên khác ngoài gỗ đang dần bị cạn kiệt, các loài cây gỗ có giá trị đã và đang bị khai thác triệt để, khả năng tái sinh tự nhiên đang bị đe dọa. Từ năm 1943 đến năm 1993, nƣớc ta mất gần 6 triệu ha rừng tự nhiên, bình quân mỗi năm mất 110000- 120000 ha.
Trong 3 thập kỷ qua nƣớc ta đã trồng hơn 2 triệu ha rừng tập trung, nhƣng chất lƣợng và số lƣợng không đảm bảo, diện tích thành rừng chỉ chiếm tỉ lệ 40%. Sơn La là 1 tỉnh miền núi phía Tây Bắc của Việt Nam, các hoạt động kinh tế xã hội phần nhiều còn gắn liền với rừng. Trong đó phải nói đến là Xã Chiềng Khoang, thuộc huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La. Xã Chiềng Khoang có tổng diện tích tự nhiên của toàn xã là: 3.887,00 ha: Diện tích đất lâm nghiệp chiếm: 2.539,682 ha; Trong đó: Diện tích có rừng: 1.
Rừng trồng phòng hộ, sản xuất: 9,900 ha; Đất trống: 953,1 ha. Diện tích rừng trồng cao su: 469,770 ha; Các loại đất khác: 865. Tuy nhiên với tình trạng nhƣ hiện nay, diện tích rừng đang bị thu hẹp đáng kể. Nguyên nhân chính là do việc khai thác gỗ quá mức của ngƣời dân địa phƣơng.
Một trong những mục tiêu khai thác chính phải kể đến, đó là cây Nghiến. Nghiến là một minh chứng tiêu biểu cho việc khái thác gỗ với nhiều mục đích ở Sơn La. Nghiến là một loài cây gỗ quý hiếm thuộc nhóm nguy cấp (V) phân hạng EN A1a-d+2c, d trong sách Đỏ Việt Nam, 2007. Gỗ màu nâu đỏ, nặng, rắn, không mối mọt, dễ gia công chế biến dung để xây dựng các công trình lớn, đóng các đồ 9 gỗ có giá trị kinh tế cao.
Vì là cây gỗ quý hiếm nên trong những năm qua gỗ Nghiến đã bị khai thác với số lƣợng lớn với nhiều mục đích khác nhau. Trƣớc thực trạng này Nghiến cần đƣợc bảo tồn và phát triển. Xuất phát từ những thực tiễn trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu bảo tồn loài Nghiến (Burretiondendron hsienmu W.How) tại xã Chiềng Khoang- huyện Quỳnh Nhai- tỉnh Sơn La” là cần thiết và cấp bách, phù hợp với tình hình thực tiễn tại địa phƣơng, góp phần bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học của tỉnh Sơn La nói riêng và của Việt Nam nói chung. 10 Chƣơng I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Những thông tin cơ bản về loài Nghiến. Tên khoa học: Burretiodendron hsienmu W.How Họ Đay:Tiliaceae 1.Đặc điểm nhận dạng. ( theo Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 - phần thực vật – trang 350) Cây gỗ lớn, cao 30 – 35m, đƣờng kính tới 80 - 90 cm, Cành non không có lông, Lá hình trứng rộng, mép nguyên; gân bên 5 - 7 đôi, trong đó có 3 gân gốc, cuống lá dài 3-5 cm. hoa đơn tính, hoa đực có đƣờng kính khoảng 1,5cm.
Đài hình chuông, ở đầu xẻ 5 thùy sâu, dài 1,5cm. Cánh hoa 5, đài 1,3cm. Nhị khoảng 25, xếp thanh 5 bó, chỉ nhị dài 1-1,3 cm. Bao phấn hình bầu dục, dài 3mm.
Qủa khô hình 5 cạnh, giống quả khế,tự mở, đƣờng kính 1,8 cm.Sinh học và sinh thái. Ra hoa tháng 3 - 4, có quả tháng 8 - 10. Cây ƣa sáng, mọc rải rác trong rừng Thƣờng xanh mƣa mùa ẩm ở vùng núi đá vôi, ở độ cao dƣới 800 m, tái sinh bằng hạt, cây mẹ và cây con gặp khá phổ biến dƣới tán rừng.1: Hình ảnh thân cây Nghiến (nguồn: Nguyễn Thị Yến (2018) tại rừng đầu nguồn xã Chiềng Bằng, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La) Lá tươi Lá khô Hình 1.2: Hình thái lá Nghiến ở 2 trạng thái tƣơi và khô (Nguyễn Thị Yến (2018)) 12 1. Phân bố - Trong nước: Sơn La ( Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Sông Mã, Mộc Châu), Hà Giang, Tuyên Quang (Chiêm Hóa), Cao Bằng ( Quảng Hòa, Trùng Khánh, Hạ Lang, Thạch An), Bắc Kạn ( Chợ Đồn, Ba Bể), Lạng Sơn ( Hữu Liên, Bắc Sơn), Quảng Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình (Pà Cò, Mai Châu).
- Thế giới: Trung Quốc 1. Gíá trị Gỗ quý, màu nâu đỏ, cứng, thớ thẳng, vân đẹp, ít co rút, dùng đóng thuyền, làm bệ máy và xây dựng; dùng để làm các đồ mỹ nghệ cao cấp, và vật dụng trong gia đình nhƣ bàn ghế, thớt,. Tình trạng Tuy có khu phân bố rộng nhƣng bị khai thác rất mạnh (trƣớc đây để lấy gỗ dùng trong xây dựng và làm tà vẹt, hiện nay dùng làm thớt chủ yếu xuất khẩu trái phép qua biên giới). Số cá thể trƣởng thành đã bị chặt phá > 50%.
Tuy có ở các khu bảo tồn thiên nhiên Pà Cò, Hang Kia, Na Hang, Hữu Liên và Vƣờn quốc gia Ba Bể, nhƣng tại những nơi đó vẫn bị chặt trộm. Loài đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt trủng ngoài tự nhiên.2 Các nghiên cứu về loài Nghiến trên Thế giới. Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy: họ Đay (Tiliaceae) có 46-50 chi và 450 loài (Theo Đa dạng và Thực vật có hoa của Armen Takhtaina). Nghiến là một loài cây gỗ quý đã đƣợc nhiều nhà khoa học trên thế giới nghiên cứu, và có một số công trình nghiên cứu sau: Nghiến (Burretiondendron hsienmu W.How) thuộc họ Đay (Tiliaceae), theo tiếng Trung Quốc gọi là Xianmu.
Ngoài ra, Nghiến còn đƣợc sử dụng với nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác nhƣ: Burretiodendron tonkinense (A, Chev,) Kosterm,; 13 Burretiodendron tonkinensis Kosterm,; Excentrodendron hsienmu (Chun et How) Chang et Mian; Pentace tonkinensis A,Chev,; Nghiến đƣợc nghiên cứu và phát hiện đầu tiên vào năm 1956 tại Trung Quốc bởi 2 giáo sƣ nổi tiếng là Chun Woon- young và How Foon-chew, đƣợc lấy tên là Burretiodendron hsienmu W.How và sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay. Đến năm 1978, Nghiến tiếp tục đƣợc 2 giáo sƣ là Chiang Hong Ta và Mian Ru Huai mô tả, đƣa ra những điểm mà họ cho là có sự khác biệt so với những mô tả của W. Do đó, một tên khoa học đồng nghĩa đã đƣợc đƣa ra là Excentrodendron hsienmu (W.How) Chang et Mian, tuy nhiên cho đến nay tên này vẫn không đƣợc sử dụng rộng rãi. Theo nghiên cứu của Li và cộng sự, (1956); Hu và cộng sự, (1980) Nghiến phát triển tốt trên núi đá vôi tinh khiết, thƣờng trên các sƣờn dốc, trên đá trần hoặc trong đất nông.
Ngƣợc lại, nó không thể tồn tại trong các khu vực đồi núi, nơi bề mặt có nguồn gốc từ các loại đá có tính axit nhƣ sa thạch hoặc đá phiến sét, ngay cả khi độ dốc nhẹ và tầng đất sâu. Ở phía Bắc khu vực nhiệt đới, những cây đại thụ của loài này thƣờng chiếm lĩnh các lớp trên của rừng nhiệt đới trên núi đá vôi. Ở độ cao dƣới 700 mét, Nghiến thƣờng mọc hỗn giao với các loài cây nhiệt đới nhƣ Garcinia paucinervis, Drypetes perreticutata, Drypetes confertiflora, Vluricoccum sinense and Walsura robusta. Ở miền cận nhiệt đới, nơi có độ cao từ 700-900 mét hoặc cao hơn, Nghiến vẫn tăng trƣởng khá tốt, và thƣờng mọc hỗn giao với các loài cây cận nhiệt đới nhƣ Cinnamomum calcarea, Cryptocarya maclurei, Castanopsis hainanensis và Cyclobalanopsis glauca.
Xa hơn về phía Bắc, Nghiến không phân bố liên tục thành những khu vực rừng lớn mà nằm rải rác kéo dài đến 24°16' vĩ độ Bắc. Nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của Nghiến, Wang Xianpu và cộng sự (1986) trong báo cáo “Burretiodendron hsienmu Chun & How: Đặc điểm sinh thái học và bảo vệ loài” đã khẳng định: Nghiến là một loài cây gỗ lớn.Trong tự nhiên, những cây Nghiến khổng lồ thƣờng 14 có bạnh vè, làm cho đƣờng kính ngang ngực có thể phát triển từ 1 – 3 m trên vùng núi đá vôi, với hệ rễ dầy nổi lên bề mặt đá và vƣơn rộng ra khỏi phạm vi tán lá. Các chồi và lá non của Nghiến có nhựa dính, lá cây trƣởng thành dầy, cứng, đầu nhọn dần, phát triển cấu trúc xeromorphic giúp cho cây có khả năng thích nghi với môi trƣờng sống khô, biên độ nhiệt biến động lớn trong năm. Tán lá dầy, cành nhánh phát triển mở rộng thƣờng xuyên, tạo thành một bức khảm giúp tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời.
Các nghiên cứu về loài Nghiến ở Việt Nam. Nghiến còn đƣợc gọi là Kiên quang, Nghiến đỏ, Nghiến trứng, Kiêng mật, Kiêng đỏ với tên khoa học là (Burretiodendron hsienmu W.How) thuộc họ Đay (Tiliaceae). Ngoài ra, Nghiến còn đƣợc sử dụng với nhiều tên khoa học đồng nghĩa khác nhƣ: Excentrodendron hsienmu (W.How) Chiang et Miau; Pentace tonkinensis A,Chev. Còn theo tiếng của ngƣời dân tộc H’Mông (Sơn La), Nghiến đƣợc gọi là Pá tông.
Nghiến là một loài cây sinh sống lâu đời ỏ Việt Nam, mặc dù loài cây này mới chỉ đƣợc một vài tác giả quan tâm, nghiên cứu ở lĩnh vực đặc tính sinh học và sinh thái học nhƣng đã đạt đƣợc một số kết quả nhất định. Nổi bật là báo cáo khoa học của tác giả Lê Mộng Chân với đề tài: “ Nghiên cứu cây trồng một số loài cây quý hiếm tại vƣờn sƣu tập thực vật Trƣờng Đại Học Lâm Nghiệp”. Trong đề tài này tác giả quan tâm nghiên cứu hai loài cây trong đó có cây Nghiến. Theo Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), Nghiến là cây gỗ lớn, cao trên 30m, đƣờng kính có thể tới 100cm, bạnh lớn.
Thân tròn thẳng, vỏ màu xám, sau xám nâu, bong mảng. Lá đơn mọc cách, hình trứng tròn, đầu nhọn dần, có mũi lồi dài, đuôi hình tim hoặc gần tròn dài 8 – 12cm, phiến lá dầy, cứng, nhẵn, bóng, mép nguyên, có 3 gân gốc. Nách gân lá có tuyến và có túm long. Cuống lá thô, dài 3,5 – 5 cm, hơi đỏ.
Hoàng Kim Ngũ và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá tái sinh loài Nghiến trên các vùng núi đá vôi tại Cao Bằng, Bắc Kạn đã có 15 những mô tả về đặc điểm hình thái Nghiến tái sinh (dƣới 3 tuổi) khá chi tiết nhƣ: Cây mầm (cây dƣới 6 tháng tuổi), lá có dạng hình tai, thân mềm, dài 3,89cm – 4,5cm, rộng 2,4cm, rễ dài trung bình 4,6cm. Ở tầng thảm mục, rễ mầm dài tới 10cm, đây là những đặc điểm cơ bản để xác định cây mầm; Cây con (là những cây trên 6 tháng tuổi), thân thẳng, tròn, chƣa phân cành, đƣờng kính bình quân 0,45cm, chiều cao vút ngọn đạt tới 45cm, vỏ ngoài mầu xanh xám, phần non màu xanh.