Nghiên cứu bảo tồn loài Lát hoa Chukrasia tabularis A. Juss tại xã Chiềng Khoang, Quỳnh Nhai, Sơn La

Khám phá nghiên cứu bảo tồn loài lát hoa (Chukrasia tabularis) tại Chiềng Khoang, Quỳnh Nhai, Sơn La. Tìm hiểu giải pháp bảo vệ cây quý.

Trường đại học

Trường đại học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT KHÓA LUẬN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Trên thế giới

1.2. Tại Việt Nam

1.3. Tại khu vực nghiên cứu(xã Chiềng Khoang)

1.4. Đặc điểm hình thái Lát hoa

2. Chương 2: MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

2.2. Giới hạn nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu một số đặc điểm phân bố của loài Lát hoa

2.5. Phƣơng pháp đánh giá khả năng tái sinh của Lát hoa dƣới tán mẹ

2.6. Phƣơng pháp đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng tới công tác bảo tồn loài Lát hoa tại khi vực nghiên cứu

2.7. Phƣơng pháp đề xuất một số biện pháp phát triển loài Lát hoa cho khu vực nghiên cứu

3. Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN-KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

3.1.1. Vị trí địa lý, địa hình

3.1.2. Điều kiện khí hậu, thuỷ văn

3.1.3. Hệ sinh vật

3.2. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ XÃ HỘI

3.2.1. Về dân tộc

3.2.2. Tình hình sản xuất, đời sống thu nhập

3.2.3. Cơ sở hạ tầng

4. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Đặc điểm phân bố loài Lát hoa tại khu vực nghiên cứu

4.2. Cấu trúc quần thể Lát hoa

4.3. Cấu trúc rừng nơi Lát hoa phân bố

4.4. Nghiên cứu Khả năng tái sinh của Lát hoa

4.5. Đánh giá các yếu tố ảnh hƣởng đến Lát hoa tại khu vực nghiên cứu

4.5.1. Tác động do con ngƣời

4.5.2. Tác động do thiên nhiên

4.6. Đề xuất một số giải pháp cho công tác bảo tồn và phát triển Lát hoa

4.6.1. Phƣơng pháp bảo tồn tại chỗ

4.6.2. Phƣơng pháp bảo tồn chuyển chỗ

4.6.3. Các giải pháp khác

KẾT LUẬN TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Hé lộ giá trị và tầm quan trọng bảo tồn cây Lát Hoa ở Sơn La

Loài Lát Hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) là một trong những loài cây gỗ quý hiếm, không chỉ mang giá trị kinh tế của gỗ lát hoa cao mà còn đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái rừng Sơn La. Gỗ Lát Hoa, với vân đẹp, thớ mịn và màu sắc đặc trưng, rất được ưa chuộng trong sản xuất đồ nội thất cao cấp, mỹ nghệ, mang lại nguồn thu nhập đáng kể. Tuy nhiên, giá trị này cũng là nguyên nhân chính khiến loài cây phải đối mặt với nguy cơ cạn kiệt do khai thác quá mức. Về mặt sinh thái, Lát Hoa góp phần duy trì sự ổn định của hệ sinh thái, che phủ đất, chống xói mòn và là một mắt xích không thể thiếu trong chuỗi bảo tồn đa dạng sinh học. Tại xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La, Lát Hoa từng phân bố rộng rãi, là một phần quan trọng trong đời sống văn hóa và kinh tế của người dân địa phương. Tuy nhiên, hiện trạng đáng báo động về sự suy giảm số lượng cá thể đòi hỏi phải có những nghiên cứu và hành động cấp thiết. Nghiên cứu của Vũ Thị Ngoan (2018) về “Nghiên cứu bảo tồn loài Lát hoa (...) tại xã Chiềng Khoang” cung cấp một cơ sở khoa học vững chắc, đánh giá toàn diện về đặc điểm phân bố, khả năng tái sinh và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó làm nền tảng cho việc xây dựng các giải pháp bảo tồn bền vững. Việc bảo tồn nguồn gen thực vật quý hiếm này không chỉ là nhiệm vụ của ngành lâm nghiệp mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng nhằm bảo vệ một di sản thiên nhiên cho các thế hệ tương lai.

1.1. Đặc điểm hình thái và sinh thái học của cây Lát Hoa

Theo tài liệu nghiên cứu, cây Lát Hoa (Chukrasia tabularis) thuộc họ Xoan (Meliaceae), là cây gỗ lớn, có thể cao tới 30m và đường kính thân đạt 120cm. Thân cây thường thẳng, gốc có bạnh vè lớn, giúp cây chống chịu gió bão tốt. Vỏ cây có màu nâu nhạt, nứt dọc. Đặc điểm hình thái cây Lát Hoa nổi bật là lá kép lông chim chẵn, dài 30-50cm, mỗi lá chính mang 10-16 lá chét hình trứng hoặc mũi mác. Hoa mọc thành cụm hình chùy ở đầu cành, màu trắng kem và có mùi thơm nhẹ. Quả là dạng quả nang hóa gỗ, hình bầu dục, khi chín có màu nâu xám. Về đặc điểm sinh thái học, Lát Hoa là cây ưa sáng nhưng giai đoạn non lại ưa bóng. Cây thường phân bố tự nhiên trong rừng hỗn giao thường xanh, đặc biệt trên các vùng núi đá vôi với độ cao từ 400-1000m so với mực nước biển, nơi có điều kiện thoát nước tốt. Tại Chiềng Khoang, cây phân bố trong điều kiện khí hậu á nhiệt đới, mát mẻ, với nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,5°C và độ ẩm 80%.

1.2. Vị thế trong Sách Đỏ Việt Nam và sự phân bố ở Quỳnh Nhai

Sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng đã đưa loài Lát Hoa vào danh sách các loài cần được bảo vệ. Theo Sách Đỏ Việt Nam (1996), Chukrasia tabularis được xếp ở cấp đánh giá bậc K, tức là loài bị đe dọa nhưng chưa có đủ thông tin để xác định mức độ chính xác. Điều này nhấn mạnh tính cấp thiết của các hoạt động nghiên cứu và bảo tồn. Phân bố cây lát hoa ở Việt Nam khá rộng, từ các tỉnh miền núi phía Bắc như Sơn La, Lai Châu, Hà Giang đến Bắc Trung Bộ. Tại Sơn La, huyện Quỳnh Nhai, đặc biệt là xã Chiềng Khoang, từng là một trong những khu vực có quần thể Lát Hoa tự nhiên phong phú. Nghiên cứu tại đây cho thấy các cá thể trưởng thành, lâu năm thường xuất hiện ở độ cao từ 600-1000m, trong khi những cây non hơn lại phân bố chủ yếu ở độ cao 400-500m, cho thấy có sự thay đổi về cấu trúc quần thể theo thời gian, có thể do các hoạt động khai thác và phục hồi rừng.

II. Phân tích thực trạng bảo tồn Lát Hoa đáng báo động ở Sơn La

Thực trạng bảo tồn ở Sơn La đối với loài Lát Hoa đang đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng. Vấn đề lớn nhất xuất phát từ tác động của con người đến hệ sinh thái. Trong quá khứ, việc khai thác gỗ Lát Hoa để làm nhà, chế tác đồ gia dụng và mỹ nghệ diễn ra một cách ồ ạt và thiếu kiểm soát. Nghiên cứu của Vũ Thị Ngoan (2018) chỉ ra rằng “Lát hoa là một loài bị khai thác mạnh, gây suy giảm về số lượng”. Các xưởng chế biến gỗ tại địa phương, dù quy mô nhỏ, cũng góp phần tạo ra áp lực liên tục lên quần thể Lát Hoa còn sót lại trong tự nhiên. Bên cạnh đó, các hoạt động nông nghiệp như phá rừng làm nương rẫy, dù đã giảm, vẫn tiềm ẩn nguy cơ làm thu hẹp môi trường sống tự nhiên của loài. Một thách thức lớn khác đến từ chính đặc điểm sinh học của loài: khả năng tái sinh tự nhiên cực kỳ kém. Các cuộc khảo sát thực địa tại Chiềng Khoang cho thấy “rất ít cá thể Lát hoa tái sinh xuất hiện tại khu vực nghiên cứu”. Điều này có nghĩa là nếu không có sự can thiệp của con người thông qua các biện pháp gây trồng, quần thể Lát Hoa sẽ khó có khả năng tự phục hồi, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng cục bộ. Những yếu tố này kết hợp lại tạo thành một vòng luẩn quẩn: khai thác quá mức làm giảm số lượng cây mẹ, từ đó càng làm giảm khả năng tái sinh, khiến cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học tại khu bảo tồn thiên nhiên Quỳnh Nhai trở nên khó khăn hơn bao giờ hết.

2.1. Tác động từ hoạt động khai thác và sử dụng đất của con người

Hoạt động khai thác gỗ là yếu tố tác động trực tiếp và mạnh mẽ nhất đến sự suy giảm của quần thể cây Lát Hoa. Với giá trị kinh tế cao, gỗ Lát Hoa luôn là mục tiêu của các hoạt động khai thác trái phép. Mặc dù chính quyền địa phương đã có những biện pháp ngăn chặn, nhưng tình trạng này vẫn chưa được giải quyết triệt để. Bên cạnh khai thác, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, mở rộng diện tích canh tác nông nghiệp cũng làm mất đi sinh cảnh sống tự nhiên của loài. Các hoạt động làm nương rẫy, đốt thực bì không chỉ phá hủy thảm thực vật mà còn làm thay đổi cấu trúc đất, ảnh hưởng đến điều kiện nảy mầm và phát triển của hạt Lát Hoa, góp phần làm cho nỗ lực bảo tồn nguồn gen thực vật trở nên khó khăn.

2.2. Thách thức lớn từ khả năng tái sinh tự nhiên rất kém

Một trong những phát hiện quan trọng nhất của nghiên cứu là khả năng tái sinh tự nhiên của Chukrasia tabularis tại Chiềng Khoang là “rất kém”. Kết quả điều tra trong các ô tiêu chuẩn cho thấy mật độ cây tái sinh cực kỳ thấp, gần như không có. Nguyên nhân có thể đến từ nhiều yếu tố: hạt khó nảy mầm trong điều kiện tự nhiên, cây con không cạnh tranh được với các loài cây bụi, thảm tươi khác, hoặc bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh hại. Tình trạng này chỉ ra rằng quần thể Lát Hoa hiện tại không thể tự duy trì và phát triển nếu chỉ dựa vào cơ chế tự nhiên. Do đó, việc phục hồi loài này phụ thuộc gần như hoàn toàn vào các chương trình gây trồng nhân tạo. Đây là một thách thức lớn, đòi hỏi sự đầu tư bài bản vào kỹ thuật nhân giống cây lát hoa và xây dựng các mô hình trồng lát hoa hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu đặc điểm phân bố cây Lát Hoa quý hiếm

Để có được những đánh giá khoa học và chính xác về hiện trạng loài Lát Hoa, nghiên cứu đã áp dụng một hệ thống phương pháp luận chặt chẽ. Trọng tâm là phương pháp điều tra thực địa thông qua việc thiết lập các tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC). Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã lập 3 tuyến điều tra đi qua các sinh cảnh đặc trưng tại xã Chiềng Khoang. Trên các tuyến này, các ô tiêu chuẩn hình chữ nhật với diện tích 500m² (25m x 20m) được thiết lập tại những vị trí điển hình có sự phân bố cây lát hoa. Bên trong mỗi OTC, tất cả các cá thể cây gỗ, bao gồm cả Lát Hoa, đều được đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng như đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn), đường kính tán. Đồng thời, các yếu tố về điều kiện tự nhiên xã Chiềng Khoang như độ cao, độ dốc, hướng phơi, độ tàn che cũng được ghi nhận chi tiết. Phương pháp phỏng vấn người dân địa phương và cán bộ kiểm lâm cũng được sử dụng để thu thập thông tin về lịch sử phân bố, tình hình khai thác và các kiến thức bản địa liên quan đến loài. Việc kế thừa tài liệu, bản đồ hiện trạng rừng của xã đã giúp khoanh vùng và tối ưu hóa quá trình khảo sát. Toàn bộ dữ liệu thu thập được sau đó được xử lý bằng các phần mềm thống kê như Excel và Mapinfo để xây dựng bản đồ phân bố, phân tích cấu trúc quần thể và làm rõ các đặc điểm sinh thái học của loài trong khu vực nghiên cứu.

3.1. Quy trình điều tra thực địa và lập ô tiêu chuẩn OTC

Quy trình điều tra ngoại nghiệp được tiến hành một cách hệ thống. Đầu tiên, khảo sát sơ bộ toàn khu vực để xác định các vùng có Lát Hoa mọc tập trung. Dựa trên bản đồ hiện trạng, ba tuyến điều tra chính được thiết lập để bao quát các dạng địa hình và trạng thái rừng khác nhau. Trên mỗi tuyến, các OTC được bố trí tại những nơi có sự hiện diện của Chukrasia tabularis. Trong mỗi OTC, các chỉ số lâm học của tầng cây gỗ được thu thập. Đối với cây bụi, thảm tươi và cây tái sinh, các ô dạng bản (ODB) có diện tích 12m² (4m x 3m) được lập theo đường chéo góc của OTC để đảm bảo tính đại diện. Các thiết bị chuyên dụng như GPS, địa bàn, thước dây, thước kẹp kính được sử dụng để đảm bảo độ chính xác của số liệu.

3.2. Phân tích dữ liệu và xây dựng bản đồ phân bố Lát Hoa

Sau giai đoạn thu thập dữ liệu tại hiện trường, công tác nội nghiệp đóng vai trò quyết định trong việc diễn giải kết quả. Dữ liệu từ các biểu điều tra được nhập và xử lý trên phần mềm Excel để tính toán các chỉ số quan trọng như mật độ, công thức tổ thành loài, phân bố số cây theo cấp đường kính (N/D) và chiều cao (N/H). Tọa độ GPS của các cá thể Lát Hoa bắt gặp được sử dụng để xây dựng bản đồ phân bố trên nền tảng phần mềm Mapinfo. Bản đồ này trực quan hóa khu vực phân bố cây lát hoa ở Việt Nam trong phạm vi hẹp của xã Chiềng Khoang, cho thấy rõ các cụm cá thể tập trung chủ yếu ở độ cao từ 400-760m. Các phân tích này là cơ sở để đánh giá cấu trúc quần thể và đề xuất các giải pháp bảo tồn phù hợp.

IV. Giải mã các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tái sinh của Lát Hoa

Kết quả nghiên cứu đã làm sáng tỏ những yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của cây Lát Hoa tại Chiềng Khoang, đặc biệt là vấn đề tái sinh tự nhiên. Phân tích cấu trúc rừng nơi Lát Hoa phân bố cho thấy đây là loài sống hỗn giao với nhiều loài cây khác như Muối, Nghiến, Ba soi, và tính quần thể của loài không rõ rệt. Điều này có nghĩa Lát Hoa phải cạnh tranh gay gắt về ánh sáng, dinh dưỡng và không gian với các loài khác ngay từ giai đoạn cây con. Một phát hiện đáng chú ý là cấu trúc quần thể Lát Hoa tại khu vực nghiên cứu bị “gãy khúc”. Số lượng cây tập trung chủ yếu ở nhóm đường kính 6-10cm và chiều cao 4-5.5m, cho thấy quần thể phần lớn đang ở độ tuổi trưởng thành hoặc gần trưởng thành. Sự thiếu vắng các lớp cây con và cây non kế cận là một dấu hiệu rõ ràng cho thấy quá trình tái sinh đang gặp vấn đề nghiêm trọng. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc phục hồi và phát triển loài này “chủ yếu của công tác gây trồng”. Các yếu tố địa hình như độ dốc, hướng phơi và đặc điểm thổ nhưỡng cũng có ảnh hưởng nhất định. Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất vẫn là khả năng nảy mầm và sống sót của cây con trong môi trường tự nhiên, khiến cho việc bảo tồn đa dạng sinh học phụ thuộc nhiều vào các giải pháp can thiệp trực tiếp.

4.1. Phân tích cấu trúc quần thể và các loài cây đi kèm

Cấu trúc quần thể Chukrasia tabularis tại Chiềng Khoang cho thấy sự mất cân đối giữa các cấp tuổi. Các cây trưởng thành chiếm tỷ lệ lớn, trong khi lớp cây kế cận và cây tái sinh lại rất hiếm. Điều này cho thấy quần thể đang già hóa và không có khả năng tự phục hồi hiệu quả. Việc Lát Hoa sống xen kẽ, hỗn giao với nhiều loài cây gỗ khác tạo ra một môi trường cạnh tranh cao. Phân tích các loài đi kèm giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm sinh thái học của Lát Hoa, chẳng hạn như nhu cầu về ánh sáng và điều kiện đất đai. Sự hiện diện của các loài cây khác cũng ảnh hưởng đến độ tàn che, một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của quá trình tái sinh từ hạt.

4.2. Đánh giá chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh dưới tán

Các cuộc điều tra chi tiết trong ô dạng bản (ODB) cung cấp một bức tranh ảm đạm về tình hình tái sinh. Mật độ cây tái sinh Lát Hoa gần như bằng không. Một vài cây con hiếm hoi được tìm thấy chủ yếu có nguồn gốc từ hạt nhưng chất lượng sinh trưởng kém, còi cọc và khó có khả năng phát triển thành cây trưởng thành. So sánh vị trí cây tái sinh so với cây mẹ cho thấy không có một quy luật rõ ràng nào, nhưng nhìn chung số lượng là quá ít để đưa ra kết luận chắc chắn. Tình trạng này khẳng định rằng, nếu không có các biện pháp hỗ trợ nhân giống cây lát hoa và trồng bổ sung, tương lai của loài cây gỗ quý hiếm này tại địa phương là rất mong manh.

V. Đề xuất giải pháp bảo tồn Lát Hoa bền vững và hiệu quả nhất

Dựa trên các kết quả phân tích sâu sắc về thực trạng, nghiên cứu đã đề xuất một hệ thống các giải pháp bảo tồn bền vững và toàn diện cho loài Lát Hoa tại xã Chiềng Khoang. Các giải pháp này được xây dựng trên nguyên tắc kết hợp giữa bảo tồn tại chỗ (in-situ) và bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ), đồng thời nhấn mạnh vai trò của cộng đồng và chính sách lâm nghiệp bền vững. Giải pháp trọng tâm đầu tiên là tăng cường công tác bảo vệ nghiêm ngặt các khu vực còn lại có Lát Hoa tự nhiên phân bố, đặc biệt là những cây mẹ trưởng thành, có kích thước lớn. Đây là nguồn gen quý giá cần được bảo vệ để phục vụ cho công tác thu hái hạt giống và nhân giống sau này. Giải pháp thứ hai, mang tính quyết định, là đẩy mạnh công tác gây trồng. Do khả năng tái sinh tự nhiên rất kém, việc “thúc đẩy trồng rừng để bảo tồn loài cây quý hiếm này” là con đường duy nhất để phục hồi quần thể. Điều này bao gồm việc nghiên cứu và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nhân giống cây lát hoa, từ xử lý hạt, tạo cây con trong vườn ươm đến kỹ thuật trồng và chăm sóc ngoài thực địa. Xây dựng các mô hình trồng lát hoa kết hợp nông lâm hoặc trồng rừng thuần loài, bán thâm canh có thể vừa giúp bảo tồn, vừa tạo ra lợi ích kinh tế cho người dân, từ đó khuyến khích họ tham gia bảo vệ.

5.1. Phương pháp bảo tồn tại chỗ in situ và khoanh nuôi xúc tiến

Bảo tồn tại chỗ tập trung vào việc bảo vệ nguyên vẹn hệ sinh thái rừng Sơn La nơi Chukrasia tabularis đang sinh sống. Cần thành lập các khu vực bảo vệ nghiêm ngặt xung quanh các quần thể Lát Hoa tự nhiên, đặc biệt trong khu bảo tồn thiên nhiên Quỳnh Nhai. Đồng thời, áp dụng các biện pháp khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh bằng cách phát quang dây leo, cây bụi xâm lấn quanh các cây mẹ và dọn dẹp thực bì để tạo điều kiện thuận lợi cho hạt nảy mầm (nếu có). Tăng cường tuần tra, kiểm soát để ngăn chặn triệt để các hành vi khai thác gỗ trái phép. Giải pháp này giúp duy trì nguồn gen gốc và bảo vệ môi trường sống tự nhiên của loài.

5.2. Kỹ thuật bảo tồn chuyển chỗ ex situ và nhân giống nhân tạo

Bảo tồn chuyển chỗ (ex-situ) là giải pháp chiến lược khi tái sinh tự nhiên thất bại. Cần xây dựng các vườn ươm để sản xuất cây giống Lát Hoa chất lượng cao. Kỹ thuật nhân giống cây lát hoa có thể thực hiện bằng hạt hoặc các phương pháp tiên tiến hơn như nuôi cấy mô để tạo ra số lượng lớn cây con sạch bệnh, đồng đều. Các cây giống này sau đó sẽ được sử dụng để trồng rừng mới, làm giàu rừng nghèo kiệt hoặc trồng phân tán trong vườn nhà, trang trại của người dân. Việc xây dựng một vườn giống hoặc rừng giống tập hợp các nguồn gen ưu tú của Lát Hoa tại địa phương cũng là một định hướng quan trọng cho công tác bảo tồn nguồn gen thực vật lâu dài.

5.3. Vai trò của cộng đồng và chính sách lâm nghiệp địa phương

Không một giải pháp nào có thể thành công nếu thiếu sự tham gia của cộng đồng địa phương. Cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân về giá trị kinh tế của gỗ lát hoa và tầm quan trọng của việc bảo tồn. Xây dựng các cơ chế, chính sách hỗ trợ người dân tham gia trồng và bảo vệ Lát Hoa, chẳng hạn như cung cấp cây giống, hỗ trợ kỹ thuật, và tạo cơ chế chia sẻ lợi ích khi rừng được khai thác một cách bền vững. Lồng ghép mục tiêu bảo tồn Lát Hoa vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của xã, của huyện sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc cho công tác lâm nghiệp bền vững.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên đặc biệt và vô cùng quý giá, những giá trị của rừng mang lại cho con ngƣời rất lớn.Rừng cung cấp một khối lƣợng lớn gỗ và lâm sản cho các ngành công nghiệp, cung cấp nguyên liệu cho các ngành chế biến, lƣơng thực thực phẩm cho cuộc sống của ngƣời dân sống trong và gần rừng. Ngoài ra rừng còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn đa dạng sinh học, góp phần bảo vệ nguồn nƣớc, đất, điều hòa khí hậu, hạn chế một số thiên tai nhƣ: hạn hán, lũ lụt, gió bão, đặc biệt là sự nóng lên cuả trái đất, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.Vì thế vai trò của rừng ngày càng trở nên quan trọng. Lát hoa (Chukrasia tabularis A.Juss) là cây gỗ lớn thuộc họ xoan (Meliaceae Juss), là cây trung bình đến lớn hoặc cây thƣờng xanh cao 30m, có đƣờng kính thân lên đến 120 cm có thể không phân nhánh đến 25 m. Nó có mông lồi cao đến 150 cm.

Vỏ cây có màu nâu nhạt và nâu đậm. Các lá có hình bầu dục hẹp và nhỏ hơn đến đầu. Hoa có màu nhạt màu đỏ và nằm trong các cụm phân nhánh. Qủa có màu xám vàng và nếp nhăn khi nó trƣởng thành.

Cây này đƣợc sử dụng rộng rãi nhƣ là cây cảnh, cây trồng, hoặc là những loài tiên phong. Nó cũng đƣợc sử dụng cho mục đích y tế. Đặc biệt, chiết xuất vỏ cây đƣợc sử dụng trong điều trị bệnh tiêu chảy và nhƣ febrifuge. Mặt khác, chiết xuất lá, cho thấy các hoạt động chống sốt rét, kháng khuẩn và kháng nấm cho tinh dầu lá.

Loài Lát hoa đã đƣợc ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (1996) với cấp đánh giá bậc K. Đƣợc đề nghị trồng ở các vƣờn thực vật, ven đƣờng, mở rộng diện tích rừng trồng để bảo vệ nguồn gen và lấy gỗ sử dụng. Do khi trƣởng thành, cây có bạnh khá lớn nên chịu đƣợc gió bão tốt, làm đai phòng hộ che chắn tốt. Chiềng Khoang là một xã thuộc huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La nằm ở phía Tây Bắc Việt Nam.

Xã có diện tích là 38,42 Km2, dân số vào năm 1999 là 5397 ngƣời, mật đố dân số ƣớc tính khoảng 140 ngƣời/ Km2. Dân sinh sống ở đây là dân tộc Thái và Mƣờng. Hệ thực vật nơi đây rất đa dạng bao gồm thực vật 1 hạt kín và hạt trần, thực vật nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Các loài thực vật quý hiếm nhƣ: Nghiến, Lát hoa, Đinh hƣơng, Đinh thối,….

Trong đó loài Lát hoa là loài quý hiếm nơi đây vì trƣớc đây khoảng 20 năm cây Lát hoa chịu nhiều sự tác động nhƣ: khai thác gỗ làm nhà cửa quá mức, làm vật dụng và chế biến. Trƣớc đây 20 năm, thì loài Lát hoa ít đƣợc quan tâm nên xảy ra nhiều tình trạng khai thác gỗ Lát trái phép nhiều, nhƣng vài năm trở lại đây loài này đã đƣợc xã Chiềng Khoang quan tâm, đề ra những biện pháp ngăn chặn khai thác quá mức, và hiện tại đã giảm đáng kể nạn khai thác trái phép này. Chính vì có giá trị nhƣ vậy nên Lát hoa là một loài bị khai thác mạnh,gây suy giảm về số lƣợng. Ngày nay nếu chúng ta không có những tác động, biện pháp bảo vệ tích cực thì trong tƣơng lai gần loài Lát hoa trong tự nhiên sẽ dần bị tuyệt chủng loài.

Vấn đề đặt ra là ta phải nghiên cứu để bảo tồn loài. Từ những vấn đề cấp thiết nêu trên tôi thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu bảo tồn loài Lát hoa tại xã Chiềng Khoang, huyện Quỳnh Nhai, tỉnh Sơn La.” Ngoài mục tiêu là khóa luận tốt nghiệp, đề tài còn cung cấp thêm những thông tin khoa học về loài Lát hoa ở khu vực xã Chiềng Khoang, góp phần hiểu biết sâu hơn về loài Lát hoa này đề làm cơ sở cho các biện pháp bảo vệ và phát triển loài này tại khu vực. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Trên thế giới Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy, Họ Xoan (Meliacae) có khoảng 50 chi và 550-620 loài, với sự phân bố khắp miền nhiệt đới, một chi(Toona) phát triển tới tận vùng ôn đới phía bắc của Trung Quốc và về phía nam tới đông nam Úc, và một chi khác(Melia) gần nhƣ xa nhƣ thế về phía Bắc. Lát hoa đƣợc chấp nhận tên khoa học Chukrasia tabularis A.Juss và 5 tên phụ của loài, bản ghi nhận đƣợc từ WCSP (23-03-2012).

(Theo The Plant List) Họ Xoan có 7 loài trong chi Chukrasia với 52 chi, 3198 tên khác nhau của loài trong họ và có 669 tên đƣợc chấp nhận. Cây Lát hoa phân bố ở Châu Á – Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh, Myanmar, Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Lào, Campuchia, Việt Nam.org) Theo thực vật chí Trung Quốc về họ Xoan thì có khoảng 50 chi và 650 loài. Theo Armen Takhtajan (1996) thì họ Xoan có 50 chi và 600 – 1300 loài. Lát hoa phân bố rộng rãi ở Banglades, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Thái Lan, Sri Lanka, Việt Nam.

Lát hoa cũng đƣợc nhân giống ở nhiều nƣớc khác nhƣ Cameroon, Costa Rica, Nigeria, Puerto Rico, Nam Phi, Hoa Kỳ. Cây chủ yếu cho giá trị khai thác gỗ đóng đồ dùng nội thất, ván khắc,ván ghép. Trong y học truyền thống Ấn Độ ngƣời ta dùng vỏ cây làm thuốc. Lát hoa cũng thƣờng đƣợc trồng ven hàng bản dùng làm cây bóng mát ở một số nơi và là loài cây biểu tƣợng của tỉnh Phrae ( miền bắc Thái Lan).

Đã có những nghiên cứu về thực vật họ Xoan trên thế giới trong đó có những nghiên cứu về Lát hoa tuy nhiên cũng không nhiều. Hiern(1875) đã đặt tên cho chi Lát hoa, W. Hiern(1975), Pierre(1897), F Pellegrin(1911) mô tả hình thái loài và đơn vị dƣới loài đồng thời đề cập vùng phân bố ở Viêt Nam, Ấn Độ, Nghiên cứu về sinh trƣởng của cây ở trong vƣờn ƣơm của Rai S N(1985), Bussche G II 3 Vonden(1979) thông báo trồng thử 24.8 ha ở Tranvan For, Whtesel (1976) cho thấy khả năng thích nghi của lát hoa khi trồng ở Hawai. Những thí nghiệm trồng thử ở Tranvan For và Hawai cho thấy sự thích nghi ở nhiều vùng sinh thái khác nhau của cây Lát hoa.

Nhìn chung những nghiên cứu về cây Lát hoa trên thế giới còn hạn chế, các nghiên cứu chỉ đƣợc đề cập sơ lƣợc và thiếu tƣ liệu cụ thể chua tƣơng xứng với giá trị của cây.Tại Việt Nam Ở Việt Nam, Lát hoa thƣờng phân bố tự nhiên ở các tỉnh Bắc miền Trung và miền Bắc, từ Hà Tĩnh trở ra Thanh Hóa, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hà Giang, Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình,…. Theo một số tài liệu thì Lát hoa thƣờng mọc trên chân đất thoát nƣớc tốt, ở độ cao 300-800m so với mực nƣớc biển, nhiệt độ trung bình năm từ 2-43°c, lƣợng mƣa 1. Trƣớc đây cũng có ngƣời cho rằng ở Việt Nam, lát hoa chỉ mọc tốt ở những vùng núi đá vôi cao. Tuy thế, trong thực tế của nhiều năm trở lại đây, cây lát hoa đã đƣợc đƣa trồng trên nhiều chân đất khác nhau, từ đất thịt, thịt pha, thậm chí trên vùng đất cát nghèo dinh dƣỡng ở độ cao dƣới 100m, vẫn thấy cây sinh trƣởng, phát triển khá tốt.

Đã có những nghiên cứu về thực vật Họ Xoan ở Việt Nam trong đó có loài Lát hoa. Năm 1996 Nguyễn Bá Chất đã hoàn thành luận án” Nghiên cứu một số đặc điểm Lâm học và biện pháp kỹ thuật gây trồng nuôi dƣỡng cây lát hoa ( Chukrasia tabularis A. Đây là một công trình nghiên cứu đầu tiên về một loài cây gỗ có giá trị trong tự nhiên từ đặc điểm lâm học đến kỹ thuật trồng nuôi dƣỡng. Phạm Hoàng Hộ (1993) đã mô tả hình thái, xác nhận tên loài, phát hiện một số đặc điểm phân bố.

4 Đỗ Đình Sâm (1985) nghiên cứu một vài đặc điểm đất dƣới rừng lát hoa trồng ở Nghĩa Đàn, cho thấy Lát hoa không làm suy thoái đất dƣới rừng khi lát hoa 4 tuổi. Nguyến Tiến Đạt (1985) nghiên cứu cầu ánh sáng cây con ở vƣờn ƣơm chỉ ra rằng: ở giai đoạn này Lát hoa cần che 30% ánh sáng hoàn toàn. Ngô Quang Đê (1994) giới thiệu một số thông số về hạt giống, nhiệt độ xử lý hạt là 40°c, cách bảo quản khô. Trần Minh Cảnh (2014) xác định công thức bón phân NPK đến khả năng sinh trƣởng của cây Lát hoa ở giai đoạn vƣờn ƣơm phục vụ xây dựng nông thôn mới ở xã Tuấn Đạo.

Nhân giống Lát hoa bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô của Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thị Mỹ Hƣơng, Văn Thu Huyền, Vũ Thị Ngọc, Trần Thanh Hƣơng Trung tâm Nghiên cứu giống cây rừng Viện Khoa học Lâm Nghiệp Việt Nam. Nghiên cứu ảnh hƣởng của phân bón NPK đến sinh trƣởng của loài Lát hoa giai đoạn 1-3 tháng tuổi tại vƣờn ƣơm cơ sở 3 trƣờng đại học Hồng Đức của Đoàn Thị Thắm đã chỉ ra đƣợc ảnh hƣởng của phân bón đến sự sinh trƣởng của cây trong giai đoạn vƣờn ƣơm, cùng với đó là đƣa ra các biện pháp kỹ thuật để chăm sóc hợp lý cho cây trong giai đoạn này. Lát hoa đƣợc ghi nhận trong danh mục loài quý hiếm ở VQG Côn Đảo, VQG Tam Đảo – Vĩnh Phúc, VQG Cát Bà (vea.vn) Nghiên cứu nhân giống Lát hoa bằng phƣơng pháp nuôi cấy mô của Đoàn Thị Mai, Nguyễn Thị Mỹ Hƣơng, Văn Thu Huyền, Vũ Thị Ngọc, Trần Thanh Hƣơng (Trung tâm Nghiên cứu Giống cây rừng, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) Quy trình kỹ thuật gây trồng rừng Lát hoa (Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam) Nghiên cứu đƣa cây “Lát hoa” để phát triển rừng, trồng rừng, cảnh quan (snn.vn) 5 Các hoạt động trồng cây Lát hoa đô thị nhƣ: đổi mới cây trồng đô thị ở thành phố Hạ Long, trồng cây xanh đô thị ở Hà Nội, trồng cây phục vụ đô thị ở Sóc Sơn,… Với các đặc tính của cây, Lát hoa những năm gần đây đã trở thành loại cây trồng phổ biến dùng để trồng làm bóng mát, trồng rừng kinh tế, đây là nguồn gen quý cần đƣợc nghiên cứu bổ sung cho hệ thống cây xanh đô thị, không chỉ cho các khu đô thị có nền đất thịt hoặc thịt pha mà cả cho các khu đô thị vùng cát. Lát hoa cho gỗ đẹp, từ màu sắc đến thớ và gân gỗ, nên rất đƣợc ƣa chuộng.

Gỗ Lát hoa đƣợc dùng trong đóng đồ trang trí nội thật, đồ dùng gia dụng và cả đồ mộc mỹ nghệ. Nhựa cây màu vàng trong suốt có thể dùng pha trộn với nhiều loại nhựa khác để sử dụng. Hoa chứa chất nhuộm màu vàng và màu đỏ có thể nghiên cứu làm chất màu thực phẩm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ