ĐẶT VẤN ĐỀ Con ngƣời và thiên nhiên luôn có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Vai trò của tài nguyên thiên nhiên hay tài nguyên rừng nói riêng đối với cuộc sống con ngƣời đã đƣợc nhiều tài liệu đề cập đến. Tuy nhiên, dƣới nhiều nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp khác nhau đã và đang làm ảnh hƣởng xấu đến nguồn tài nguyên này và làm cho tính đa dạng sinh học bị suy giảm trầm trọng. Bên cạnh nhiều loài, nhiều taxon đƣợc phát hiện và mô tả mới cho khoa học thì rất có thể nhiều loài khác – loài chƣa đƣợc từng đƣợc biết đến đã đối diện với nguy cơ bị đe dọa và tuyệt chủng, và trong số đó có thể có những loài có giá trị đặc biệt đối với khoa học và cuộc sống con ngƣời.[7] KBTTN Tát Kẻ - Bản Bung có diện tích 22.401,5 ha nằm trên địa bàn 4 xã Khau Tinh, Côn Lôn, Sơn Phú, Thanh Tƣơng của huyện Na Hang.
Với mục đích ban đầu nhằm bảo vệ loài Voọc mũi hếch – Pygathrix avunculus, đây là loài đặc hữu của Việt Nam và đƣợc xếp vào một trong 8 loài linh trƣởng đang bị đe dọa trên toàn cầu. Về thực vật KBTTN Tát Kẻ - Bản Bung còn khoảng 68% diện tích là rừng ẩm nhiệt đới vẫn còn ở tình trạng nguyên sinh hoặc chỉ thay đổi chút ít bởi sự tác động của con ngƣời. Trong đó có khoảng 70% là rừng trên núi đá vôi, tuy nhiên còn có những vùng rừng thƣờng xanh còn lại trên các đai thấp (Cox 1994). Cho đến nay đã xác định đƣợc trên 2.000 loài thực vật (McNab et al.
2000), trong đó có nhiều loài đƣợc ghi trong Sách đỏ Việt Nam (Anon. 1996) nhƣ Trai (Garcinia fragraeoides), Mun (Diospyrus mun), Nghiến (Excentrodendron tonkinensis), Đinh (Markhamia stipulata), Thông tre (Podocarpus neriifolius), Hoàng đàn, Trầm gió theo Hill và Hallam (1997), Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris Aver. Họ Hoàng đàn hay họ Bách (danh pháp khoa học: Cupressaceae) là một họ thực vật hạt trần phân bổ rộng khắp thế giới. Họ này bao gồm khoảng 27-30 chi (trong đó 17 chi chỉ có một loài) với khoảng 130-140 loài[14], phân bổ gần nhƣ toàn cầu ở mọi lục địa, ngoại trừ châu Nam Cực.
ở Việt Nam loài này phân bố chủ yếu tại Tuyên Quang (Na Hang), Cao Bằng (Thạch An), Lạng Sơn (Hữu Lũng: Khu BTTN Hữu Liên, Đồng Mỏ, Bắc Sơn), Quảng Bình (VQG Phong 1 Nha – Kẻ Bàng)[13]. Đa số các loài trong họ là cây gỗ, mang nguồn gen quí và hiếm gặp ở Việt Nam. Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris Aver.Phan) là loài cây gỗ lớn cao tới 25 0,7-0,9m có thể hơn nữa, đƣờng kính tới 1m. Đây là một loài thực vật đặc hữu của Việt Nam, phân bố ở nhiều khu vực núi đá vôi: Sơn La, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Hòa Bình, Nghệ An và Quảng Bình.
Mọc thuần loài thành các quần xã rừng rậm trên đƣờng đỉnh núi đá vôi ở độ cao 600-1500m, tái sinh tự nhiên có chỗ phong phú (ví dụ ở A Rem, Vƣờn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng). Tăng trƣởng về đƣờng kính rất chậm; gỗ thơm, có chất lƣợng cao, đƣợc ƣa chuộng để đóng đồ gỗ cao cấp, làm đồ mỹ nghệ, mùn cƣa dùng làm hƣơng cao cấp [12]. Đặc biệt, theo danh lục sách đỏ IUCN Bách xanh núi đá là loài thuộc nhóm loài nguy cấp EN, trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 loài này đƣợc xếp vào nhóm thực vật đang nguy cấp (EN A2cd, C1)[10]. Hiện nay đã có những nghiên cứu về Bách xanh núi đá tuy nhiên tại Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang lại chƣa có đề tài nào nghiên cứu về loài này.
Chính vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu bảo tồn loài Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris Aver.Phan) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tát Kẻ - Bản Bung, tỉnh Tuyên Quang” với mục tiêu xác định đƣợc đặc điểm phân bố, đặc điểm cấu trúc rừng, xác định đƣợc các tác động và đề xuất giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây này tại khu vực nghiên cứu nhằm hạn chế sự suy giảm các cá thể trong quần thể loài ngoài tự nhiên. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số đặc điểm chung về loài Bách xanh núi đá (Calocedrus rupestris Aver.Phan) - Tên gọi: Tên thƣờng gọi: Bách xanh núi đá Tên khoa học: Calocedrus rupestris Aver. Phan Thuộc họ Hoàng đàn – Cupressaceae - Hình thái: BXNĐ là loài cây gỗ lớn cao tới 25 m, đƣờng kính tới 1 m, thƣờng xanh, đơn tính cùng gốc, tán tròn rộng. Vỏ có nhiều ống dẫn nhựa lớn.
Gỗ vàng nhạt, không có mùi. Các cành nhỏ xếp trên một mặt phẳng, dàn trải và lớn dần, dẹt, nối rõ với nhau. Loài này phân biệt với Bách xanh (C.macrolepis) bởi chóp lá tù hoặc tù rộng, nón hạt hình trứng rộng có 4 vảy, kích thƣớc 4–5 (‐6) x 2,5–3 (‐3,5) mm với cuống nón rất ngắn, dài 0,5–1 (‐1,5) mm, có 6–8 (‐12) vảy tù; các vảy nón có hạt có chóp gần tròn, lõm vào trong, bề mặt nhám, tƣơng đối phẳng và không có núm lồi. BXNĐ gặp trong thành phần cây ƣu thế ở rừng nguyên sinh rậm nhiệt đới gió mùa Thông ở núi thấp, rất phong phú về thực vật cùng với Du sam núi đá (Keteleeria davidiana), Thông Pà Cò (Pinus kwangtungensis) và Thiết sam giả (Pseudotsuga sinensis) trên dông núi đá vôi kết tinh thể cứng bị bào mòn mạnh ở độ cao 650–1500 m trên mặt biển (nhiệt độ trung bình năm khoảng 20ºC, lƣợng mƣa trên 1500 mm).
Gặp rất ít cây con BXNĐ tái sinh[4]. - Sinh thái: BXNĐ phân bố ở khu vực có khí hậu gió mùa nhiệt đới với mùa đông lạnh và mƣa vào mùa hè và mùa thu (Nguyễn Khanh Vân et al. Mùa hè ẩm ƣớt, lƣợng mƣa trung bình khoảng 2200mm. Chế độ nhiệt mang tính mùa và phụ thuộc rõ rệt vào độ cao, nhiệt độ thấp và mƣa phùn lạnh vào mùa đông, mùa hè nóng ẩm, nhiệt độ trung bình năm đạt khoảng 23ºC[4].
3 - Phân bố: BXNĐ trƣớc đây đã từng phân bố rộng ở miền Bắc của Việt Nam, tuy nhiên do chặt gỗ và tàn phá rừng cùng với cháy rừng nên ngày nay sự phân bố của loài BXNĐ ở miền Bắc Việt Nam rất hạn chế và phân tán, nghèo nàn. Có thể bắt gặp loài này tại một số điểm gần biên giới Trung Quốc và Lào và tại một số vùng núi đá vôi của 2 nƣớc trên. Những khu rừng BXNĐ gần nhƣ chƣa bị con ngƣời tác động đƣợc phát hiện và nghiên cứu gần đây ở Tây Nam tỉnh Bắc Cạn (giáp tỉnh Thái Nguyên và Lạng Sơn ở phần trung của Bắc Việt Nam) và ở tỉnh Quảng Bình (khu vực núi đá vôi của VQG Phong Nha – Kẻ Bàng), và một số phân bố ở KBTTN Chạm Chu thuộc tỉnh Tuyên Quang. Những mảnh rừng nguyên sinh này thƣờng bao phủ các chỏm và mép dông núi cách ly của các mảnh núi đá vôi sót lại bị bào mòn mạnh với các vách dựng đứng[5].
- Giá trị sử dụng Loài cho gỗ quí có vân đẹp, thớ thẳng, có mùi, chịu mối mọt và dễ gia công. Đƣợc sử dụng trong xây dựng, làm bàn tủ, đồ gỗ và đồ mỹ nghệ cũng nhƣ làm hƣơng[4]. Gỗ thơm, có giá trị và có nhu cầu cao trên thị trƣờng thế giới và cả ở Việt Nam[9]. - Tình trạng: Mức độ đe dọa: là loài đang nguy cấp tại Việt Nam và đƣợc đƣa vào sách đỏ Việt Nam năm 2007, theo IUCN xác định Bách xanh núi đá đang ở mức nguy cấp.
BXNĐ là một trong những loài thực vật đang bị đe dọa, với phân bố hẹp, các quần thể Bách xanh có kích thƣớc nhỏ và bị chia cắt cùng với đó là việc khai thác diễn ra mạnh do loài có giá trị cao dẫn đến suy giảm nhanh về số lƣợng cây ngoài tự nhiên đặc biệt là những cây lớn[10]. Các nghiên cứu về ngành hạt trần và loài Bách xanh núi đá 1. Trên thế giới: 4 Trên thế giới thực vật phong phú và đa dạng với khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao, trong đó thực vật hạt trần chỉ có trên 600 loài[9]. Cây hạt trần là những loài có nguồn gốc cổ xƣa nhất của giới thực vật.
Các khu rừng cây hạt trần tự nhiên thƣờng gặp là Vân sam (Picea), Thông (Pinus) ở châu Âu; Thông (Pinus), Cù tùng (Siquoia, Sequioiadendron) và Thiết sam (Pseudotsuga) ở khu vực Bắc Mỹ; tại Đông Á là Tùng Bách (Cupressus, Juniperus), Liễu sam (Cryptomeria)[9]. Hiện nay có khoảng 29 loài thuộc ngành Thông ở Việt Nam (dƣới 5% số loài cây trong ngành thông đã biết trên thế giới nhƣng lại chiếm đến 27% số các chi và 5 trong số 8 học đã biết (Nguyễn Đức Tó Lƣu, Philip Ian Thomas, 2004). Các loài thực vật hạt trần đã đóng góp một phần không nhỏ vào nền kinh tế của nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Na Uy, Phần Lan,. bởi nó mang lại giá trị kinh tế rất cao, do vậy chúng đã và đang bị khai thác một cách bừa bãi, ảnh hƣởng đến nguồn gen, đa dạng sinh học.
Hiện nay có tới 200 loài đƣợc xếp ở mức bi đe dọa tuyệt chủng ở mức toàn cầu[4]. Do vậy vấn đề bảo tồn loài rất đƣợc coi trọng, cũng chính vì lý do đó mà trên thế giới có rất nhiều công trình nghiên cứu nhằm hiểu rõ hơn về các loài thực vật cũng nhƣ đề ra các biện pháp bảo tồn và phát triển chúng. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về các loài cây hạt trần, điển hình có: - Ngƣời đầu tiên nghiên cứu và phân chia thực vật có hạt thành 2 ngành Hạt trần và Hạt kín là Robert Brown (1773 – 1858)[10].Takhtajan thông qua các tài lệu cỗng trƣớc đó ông đã dần hoàn thiện hệ thống phân loại thực vật có hạt (2009) và hiện nay đang đƣợc sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới[10]. Ở Việt Nam Nƣớc ta có khoảng 30 loài cây Hạt trần bản địa và đã du nhập vào khoảng trên 20 loài để trồng thử nghiệm.
Chúng thƣờng phân bố trên các vùng có độ cao lớn, nhƣ các loài Thông ba lá, Hồng tùng, Pơ mu, Bách xanh[4]. Theo các nhà khoa học, tầm quan trọng của các loài cây Hạt trần ở Việt Nam đƣợc xác định bởi tính ổn định tƣơng đối về địa chất và khí hậu của Việt Nam trong hàng triệu năm, kết hợp với địa mạo và tính đa dạng của địa mạo hiện tại cùng nhiều dạng 5 sinh cảnh kèm theo. Nhìn chung, các loài cây Hạt trần du nhập vào Việt Nam, với phạm vi vĩ độ từ gần xích đạo đến vùng cận nhiệt đới cùng với độ cao của các hệ núi chính thì có khả năng tồn tại và sống sót[5].