mở đầu cho nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Các nhà sinh vật Nga tập trung nghiên cứu xác định diện tích biểu hiện tối thiểu để có thể kiểm kê đầy đủ nhất số loài của từng hệ thực vật cụ thể. Năm 1990, WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng của da dạng sinh vật (The importance of biological diversity). Năm 1991, Wri,Wcu, WB, WWF xuất bản cuốn “ Bảo tồn đa dạng sinh vật thế giới” (Conserving the world’s biological diversity).
Năm 1992 – 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp các tư liệu về đa dạng sinh vật của các nhóm sinh vật khác nhau ở các vùng khác nhau trên thế giới, đó là cuốn “ Đánh giá đa dạng sinh vật toàn cầu” (Global biodiversity assessment). Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển trong tương lai. Sách đỏ IUCN hay gọi tắt là Sách đỏ (tiếng Anh là IUCN Red List of Threatened Species, IUCN Red List hay Red Data List) là danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật trên thế giới. Danh sách này được giám sát bởi Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (International Union for Conservation of Nature and Natural Resources, IUCN).
Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN, làm cơ sở để Chính phủ Việt Nam cũng 3 công bố Sách đỏ Việt Nam để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học dược sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các qui định, luật pháp của Nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.[6] Bên cạnh đó,hành ngàn tác phẩm,những công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng trăm cuộc hội thảo được tổ chức được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, phương pháp luận và thông báo các kết quả đạt được ở khắp mọi nơi trên toàn thế giới. Có rất nhiều tổ chức quốc tế đã được thành lập với mục tiêu hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh vật trên phạm vi toàn cầu như: Hiệp hội Quốc tế Bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trường Liên hợp Quốc (UNEP), Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), tổ chức quốc tế bảo tồn các loài và hệ sinh thái có nguy cơ tuyệt chủng trên phạm vi toàn cầu (FFI), Công ước buôn bán quốc tế các loài động, thực vật nguy cấp (CITES),…Nhiều tổ chức đã tạo được thành mạng lưới phục vụ cho công tác đánh giá nghiên cứu bảo tồn và phát triển. Điển hình như công trình của FAO/UNEP (1975), nguồn gen và bảo tồn gen ở rừng nhiệt đới.
FAO (1993) về bảo tồn nguồn gen trong quản lý rừng nhiệt đới; Báo cáo nghiên cứu thí điểm phương pháp bảo tồn nguồn gen cây rừng. Hattermer, (1993); tuyển chọn đa dạng gen thực vật… Công ước về buôn bán quốc tế các loài động, thực vật hoang dã, nguy cấp (Convention on International Trade in Endangered Species of Wild Fauna and Flora – CITES) là một hiệp ước đa phương. Công ước được đưa ra kí kết năm 1973 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1975. Công ước CITES được thiết lập nhằm mục tiêu kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế mẫu vật của các loài động, thực vật hoang dã một cách bền vững, đảm bảo rằng hoạt động này không làm ảnh hưởng đến sự tồn vong của loài trong tự nhiên.
Bên cạnh đó hoạt động buôn bán động, thực vật hoang dã diễn ra liên quốc gia, chính vì vậy để kiểm soát hoạt động buôn bán đòi hỏi có sự tham gia của cả cộng đồng quốc tế. Ngày nay, công ước CITES quy định việc bảo vệ trên 30.000 loài, gồm khoảng 5.000 loài động vật và 25.000 4 loài thực vật ở các mức độ khác dựa trên việc kiểm soát hoạt động buôn bán quốc tế các mẫu vật của chúng.[30] Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen quý hiếm đã trở thành chiến lược trên thế giới. Liên hợp quốc đã lựa chọn năm 2010 là năm Quốc tế đa dạng sinh học. Lần đầu tiên trong lịch sử, Đại hội đồng Liên hợp quốc trong phiên bản họp lần thứ 65 tổ chức một cuộc họp cao cấp về đa dạng sinh học với sự tham gia của nguyên thủ quốc gia và Chính phủ.
Ngoài ra trong cuộc họp tại hội nghị các bên lần thứ 10 vào năm 2010 tại Nagoya, Nhật Bản, các nghị định thư đã dược thông qua. Nghị định thư Nagoya đưa ra hai thỏa thuận mang tính ràng buộc quốc tế nhằm thực hiện mục tiêu Công ước. Trong khi nghị định thư Cartagena quy định về việc di chuyển các sinh vật biến đổi gen qua biên giới các nước, thì nghị định thư như Nagoya thiết lập một khuôn khổ ràng buộc về mặt pháp lý cho việc tiếp cận các nguồn gen và chia sẻ lợi ích,đồng thời lên kế hoạch bảo vệ các loài trên thế giới.[13] Ngày 22 tháng 12 năm 2010,Liên Hiệp Quốc tuyên bố thập kỷ từ 2011 đến 2020 là thập kỷ Liên Hiệp Quốc về Đa dạng sinh học. Ở Việt Nam Việt Nam là nước có đa dạng sinh học cao, nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, là một trong 10 trung tâm đa dạng sinh học quan trọng của thế giới và được thể hiện qua sự phong phú của nguồn gen, số lượng loài, các kiểu cảnh quan, các hệ sinh thái và vùng địa lý sinh học.
Nghiên cứu về thực vật Việt Nam trước hết phải kể đến bộ “ Thực vật chí Nam Bộ” của Leureiro (1790). Một công trình lớn nhất về quy mô cũng như giá trị là công trình nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương của các tác giả Pháp Lecomete et al (1905-1952) kết quả của nghiên cứu này là bộ “ Thực vật chí đại cương Đông Dương”, trong kết quả nghiên cứu này thì theo Lecomte vùng Đông Dương có hơn 7. Đây là bộ sách có ý nghĩa rất lớn đối với các nhà thực vật học, đến nay bộ sách vẫn còn có giá trị với những người nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. (1965), dựa trên bộ “Thực vật chí Đông Dương” đã thống kê được 5.190 loài, đồng thời tác giả còn phân tích cấu trúc hệ thống cũng như dạng sống và các yếu tố địa lý của hệ thực vật này.
Như vậy cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu thực vật có giá trị ở Việt Nam đều do các tác giả ngước ngoài nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu cũng mới chỉ dừng lại ở mức thống kê số lượng loài. Sau này, bộ “Thực vật chí Đông Dương” của Thái Văn Trừng (1978, tái bản năm 2000) dựa trên bộ “ Thực vật chí đại cương Đông Dương” của Lecomte (1905- 1952) đã thống kế thực vật Việt Nam có khoảng 7.004 loài, thuộc 1850 chi, 289 họ. Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật dự đoán con số đó có thể lên tới 10.
Gần đây, đáng chú ý là bộ “ Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) xuất bản tại Canada và đã được tái bản có bổ sung tại Việt Nam (1999 – 2000), đã thống kê được 10.500 loài thực vật gần trùng với số lượng 12.000 loài theo dự đoán của nhiều nhà thực vật học. [19] [20] Phan Kế Lộc ở miền Bắc đã cung cấp số loài cây của ngành thực vật bậc cao có mạch trong công trình “ Bước đầu thống kê số loài cây đã biết ở miền Bắc Việt Nam”. Trong tác phẩm này, Phan kế Lộc đã thống kê 5.609 loài, còn các ngành khác chi có 540 loài. Cẩm nang “Cây thuốc cần bảo vệ ở Việt Nam” của Nguyễn Tập xuất bản tháng 6 năm 2007.
Bộ sách “ Danh lục các loài thực vật Việt Nam”, do Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và Nguyễn Nghĩa Thìn (đồng tác giả) (2003), cho đến nay đã thống kê được 13.000 loài thực vật hạt kín, 69 loài hạt trần.766 loài thực vật trong đó có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao. Trong đó có 10% số loài quý hiếm và 3% loài đặc hữu. Qua những tác phẩm kể trên chúng ta thấy rằng trong khoảng nửa sau của thế kỷ XX và những năm đầu của thế kỷ XXI, các tác giả Việt Nam đã có nhiều công 6 trình nghiên cứu có giá trị cao về thực vật Việt Nam. Tuy nhiên nhìn chung đa phần các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc thống kê số lượng các Taxon trong các hệ thực vật mà ít chú ý đến so sánh chúng với nhau hay các khía cạnh khác như tài nguyên, dạng sống… Bên cạnh những công trình nghiên cứu về thực vật có quy mô trên toàn quốc,thì cũng có nhiều những nghiên cứu khu hệ thực vật từng vùng dưới dạng danh lục được công bố chính thức như: “Hệ thực vật Tây Nguyên” đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch do Nguyễn Tiến Bân và cộng sự (1984), “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ (1985) đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong diện tích 592 km².
Hòa Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giới thiệu 2.024 loài thực vật bậc cao, 771 chi, 200 họ thuộc 6 ngành của vùng núi cao Sa Pa – Phanxipang [23], hay một loạt các báo công bố về đa dạng thành phần loài ở các vườn quốc gia, các khu bảo tồn thiên nhiên như vùng núi đá vôi Sơn La, ven biển Nam Trung Bộ, VQG Ba Bể, Cát Bà, Bến En, Phong Nha – Kẻ Bàng,…do nhiều tác giả công bố trong những năm gần đây. Đề tài nghiên cứu “Bảo tồn và phát triển 10 loài thực vật quý hiếm ở Vườn quốc gia Cúc Phương” gồm các loài ; Vù hương (Cinnamomum balansae), Mun (Diospyros mun), Kim Giao (Podocarpus fleuryi), Trai Lý (Garcinia fagraeoides), Trương Vân (Toona surenel)…đề tài đang nghiên cứu và đưu ra quy trình tạo giống kỹ thuật trồng rừng cho 10 loài. Năm 1991 – 2002, VQG Ba Vì đã nghiên cứu bảo tồn các loài thực vật quý hiếm: Bách xanh (Calocedus Macrolepis), Thông tre (Podocarpus meriifolius) và Vàng tâm (Manglietia fordiana). Đề tài đã được nghiên cứu điều tra khảo sát, đánh giá mức độ đe dọa.
Trên cơ sở đã được hỗ trợ cho việc bảo vệ hoặc lên phương án đưa ra giải pháp bảo tồn cho các loài nghiên cứu.