CHƯƠNG 1: CO SỞ LÝ LUẬN VE BAO ĐIỆN TỬ VỚI VAN DE BAO LỰC HỌC ĐƯỜNG 1. Truyền thông Khái niệm truyền thông: Truyền thông theo tiếng Anh là “Communication”, nghĩa là sự truyền đạt thông tin, thông báo, giao tiếp, trao đôi, liên lạc. Thuật ngữ “truyền thông” có nguồn gốc từ tiếng Latin là “Communis” với nghĩa là “làm cho phổ biến, công cộng”. Nội hàm của nó là nội dung, cách thức, con đường, phương tiện dé đạt đến sự hiểu biết lẫn nhau giữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với cộng đồng xã hội.
Nhờ truyền thông, giao tiếp con người tự nhiên trở thành con người xã hội. Hiện nay, trên thế giới, tùy theo góc độ tìm hiểu và nghiên cứu, các học giả đã đưa rất nhiều định nghĩa khác nhau về truyền thông. Tác giả Phạm Hải Chung (2019), Lý thuyết truyền thông nâng cao, Nxb Thế Giới, đã liệt kê hàng loạt các khái niệm về truyền thông của nhiều nhà nghiên cứu trên thé giới, có thé kế đến một số định nghĩa như sau: Ordway Tead (1959) nhận định “7ruyễn thông là sự tổng hợp của thông tin dua di và nhận lại về kiến thức kinh nghiệm nào đó nhằm thay đổi thái độ, kiến thức và kỹ năng, kéo theo đó là sự thay đổi về hành vi. Nó gồm những nỗ lực lắng nghe của các bên tham gia, sự giám sát liên tục các van dé của nguoi giao tiép và sự trao đổi nhạy bén các quan điểm cá nhân nhằm đạt đến mức độ cao hơn của sự hiểu biết chung và đạt được những mục tiêu chung ”.
Theo Gerald Miler (1966) cho rằng truyền thông quan tâm nhất đến tình huống hành vi, trong đó nguồn thông tin truyền nội dung đến người nhận với mục đích tác động đến hành vi của họ. Keith Davis (1967) định nghĩa truyền thông là quá trình truyền thông tin và sự hiểu biết từ người này sang người khác. Hai tác giả William Newman va Charles Summer (1977) đưa ra khái niệm truyền thông là sự trao đổi các ý tưởng, sự việc, quan điểm hay cảm xúc của hai hoặc nhiều người. Rodriques (1992) đã đưa ra nhận định truyền thông có thê được 15 định nghĩa là một sự trao đổi và sự sao chép chính xác những suy nghĩ, cảm xúc, sự việc, niềm tin và ý tưởng giữa các cá nhân thông qua một hệ thống các biểu tượng chung nhằm tạo ra những thay đổi trong hành vi.
Tác giả Duong Xuân Sơn cho răng: “Truyén thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, Kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lan nhau dé dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức ” [36, tr. Ở định nghĩa này, tác giả lưu ý đến hai khía cạnh: Thứ nhất, truyền thông là một quá trình - có nghĩa nó không phải là một việc làm nhất thời, mà là quá trình mang tính liên tục. Day là quá trình trao đổi hoặc chia sẻ, có nghĩa là ít nhất phải có hai thực thé và không chỉ có một bên cho và một bên nhận mà cả hai bên đều cho và nhận. Thứ hai, truyền thông phải dẫn đến sự hiểu biết lẫn nhau, yếu tố này cực kỳ quan trọng đối với mục đích và hiệu quả của truyền thông.
Cuối cùng, truyền thông phải đem lại sự thay đổi trong nhận thức và hành vi, nếu không mỗi việc làm sẽ trở nên vô nghĩa. Còn theo tác giả Tạ Ngọc Tan: “7ruyên thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm dat được sự hiểu biết lan nhau ” [39, tr. Quá trình truyền thông là quá trình hai chiều, người khởi xướng (nguồn) và người tiếp nhận đều phải tham gia vào trong hoạt động truyền thông. Người làm truyền thông không thé xem cái mình biết là cái cuối cùng, mà còn phải chú ý tới phản ứng và sự trả lời của người tiếp nhận.
Mô hình truyền thông: Mô hình truyền thông là những bản vẽ, bảng, biểu đồ, lược đồ, sơ đồ, các hình tượng được sử dụng dé biểu đạt những ý kiến phức tạp dưới dạng đồ họa, từ đó cho phép chúng ta nhìn nhận sâu sắc hơn, ở nhiều góc độ đa dạng hơn về một khái niệm rất phức tạp: truyền thông [10, tr. Hiệu quả cua truyền thông là những vận động xã hội được hình thành dưới tác động của truyền thông, là dòng chảy của thông điệp từ người nhận trở về nguồn phát. Hiệu quả có nhiêu tang nâc: 16 - Hiệu quả tiềm năng: có khả năng mang lại hiệu quả nào đó từ chất lượng thông tin. - Hiệu quả tiếp nhận: xem dung lượng nội dung thông tin tiếp nhận như một hiệu quả truyền thông.
- Hiệu quả nhận thức: sự thay đổi về quan điểm, tình cảm, thái độ và xã hội dưới tác động của truyền thông, còn được coi là hiệu ứng xã hội của truyền thông. - Hiệu quả thực tế: những biến đồi trên thực tế của con người, xã hội dưới tác động của truyền thông, còn được coi là hiệu ứng xã hội của truyền thông. Quá trình truyền thông gồm những yếu tố cơ bản, như: Chủ thé truyền thông, Thông điệp, Phương tiện truyền thông, Người nhận, Hiệu quả và Nhiễu. Quá trình này được thê hiện trong mô hình truyền thông 2 chiều của Shannon và Weaver năm 1948.
Thông điệp Chủ thể Giải mã |_,| Người nhận Phương tiện | truyền thông Phản hồi Phản ứng đáp lại Sơ đồ 1. Sơ đồ truyền thông 2 chiều của Shannon và Weaver năm 1948 Trong đó: Chủ thé truyền thông (hay nguồn hoặc đầu phát) là yếu tố thông tin tiềm năng và khởi xướng thực hiện truyền thông, có thể đó là cá nhân nói, viết, vẽ hoặc làm động tác. Bên cạnh đó, chủ thé truyền thông cũng có thé là một nhóm người hoặc một tổ chức truyền thông như Đài phát thanh truyền hình, một tờ báo hay rạp chiếu phim. Đây là yếu tố đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình truyền thông.
17 Thông điệp (nội dung): là nội dung thông tin được trao đổi, chia sẻ từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Có thé bang tín hiệu, mã só, lời nói, cử chi, thái độ, chữ viết hoặc bất cứ tín hiệu nào mà con người có thể hiểu được và trình bày một cách có nghĩa. Nói cách khác, thông điệp được diễn tả bằng ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận có thể hiểu được. Phương tiện truyền thông (kênh): là khả năng vận dụng các phương tiện có sẵn nhằm truyền tải thông điệp từ đầu phát đến người tiếp nhận hoặc từ nơi này đến nơi khác.
Có rất nhiều phương tiện truyền thông được sử dụng hiện nay, như: báo in, truyén hinh, radio, internet va mang xa hdi. Người nhận (công chúng): là độc giả, khán thính gia dai chúng, là đối tượng các phương tiện truyền thông muốn tiếp cận. Đây là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông, cũng là khâu cuối cùng quyết định kết quả, biến mục đích truyền thông từ khả năng thành hiện thực. Đó là việc tạo ra thay đổi về nhận thức, dẫn tới thay đổi về hành vi của người tiếp nhận, phù hợp với qui mô, tính chất và khuynh hướng của thông điệp.
Phản hồi: mỗi thông điệp có thé được hiểu và chấp nhận ở các mức độ khác nhau tùy theo kiến thức, thái độ của người tiếp nhận, đồng thời tùy thuộc vào người cung cấp thông điệp. Mã hóa: là quá trình biến suy nghĩ được truyền tải trong thông điệp. Chủ thê truyền thông xác định cách người nhận sẽ nhận thông điệp và điều chỉnh sao cho thông điệp được hiểu theo cách họ muốn. Giải mã: người tiếp nhận thông điệp và giải thích thông điệp cho chính họ.
Cách giải mã thông điệp có thể khác nhau ở mỗi người nhận thông điệp, hay nói cách khác, một thông điệp có thể được giải mã khác nhau ở những người nhận khác nhau. Nhiễu: là yếu tố gây ra sự sai lệch không được dự tính trong quá trình truyền thông (ví dụ như tiếng én, tin đồn, các yếu tố tâm lý, kỹ thuật.), dẫn đến tình trạng thông tin, thông điệp bị hiểu sai. Nhiễu ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình truyền 18 thông. Thông điệp càng qua nhiều khâu chuyên tiếp thì càng có nguy cơ chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhiễu.
Mô hình này cho thấy, thông tin được bắt đầu từ nguồn phát (chủ thé truyền thông), sau khi thông điệp được mã hóa sẽ truyền tải các kênh truyền thông, thông điệp sẽ được giải mã và đến với người tiếp nhận thông điệp. Ngoài những đặc điểm chung kế thừa từ mô hình truyền thông của Lasswell, mô hình Shannon và Weaver còn bổ sung thêm yếu tố “nhiễu” có thé gây ảnh hưởng tới tính rõ ràng, sự chính xác của thông điệp hay làm giảm khả năng tiếp nhận thông điệp của người nhận. Ở mô hình hai chiều, công chúng tiếp nhận đóng vai trò quyết định trong quá trình truyền thông. Sự quyết định của công chúng không chỉ dừng ở việc tự do lựa chon kênh truyền thông, tự do đón nhận thông điệp, mà công chúng còn tham gia trực tiếp (nếu họ muốn), trở thành một yếu tố trong mô hình truyền thông.
Lúc này, bản thân công chúng trở thành một nguồn phát thông điệp. Trong mô hình này, sự áp đặt chủ quan của chủ thé thông điệp có ý nghĩa rất ít đối với quy trình truyền thông. Với mô hình truyền thông đã trình bày, chúng tôi xác định vị trí của nghiên cứu trong mô hình này chỉ tập trung nghiên cứu yếu tố thông điệp (phân tích thông điệp về khởi nghiệp sáng tạo cho thanh niên). Môi trường truyền thông: Mọi quy trình truyền thông đều diễn ra trong những môi trường cụ thê.
Môi trường truyền thông có vai trò tác động đến năng lực và hiệu quả truyền thông, do đó việc nắm bắt, làm chủ và chi phối môi trường truyền thông nhằm tạo được hiệu quả cao là một công việc cần thiết. Môi trường truyền thông bao gồm hai loại yếu tố chính, gồm các yếu tố môi trường tự nhiên - kỹ thuật và các yếu tô môi trường tâm lý - xã hội. Các yếu tô môi trường tự nhiên - kỹ thuật, như: địa hình, quang cảnh, môi trường xung quanh, phương tiện kỹ thuật truyền dẫn. bảo đảm cho thông điệp được truyền đến đối tượng một cách đầy đủ và trọn vẹn.
Các yếu tố môi trường tâm lý - xã hội, như: sự hưng phấn, cường độ của sự chú ý, sự nhiệt tình tham gia, tâm trạng, tâm lý. có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng truyền thông. Do đó, nhà truyền thông cần cố gắng làm chủ môi trường 19 truyền thông, trước hết cần tập trung chuẩn bị nội dung thông điệp cho phù hợp với nhóm công chúng đối tượng.