Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tình hình thực hiện bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số tại xã võ miếu huyện thanh sơn tỉnh phú thọ

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp nghiên cứu tình hình thực hiện bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số tại xã võ miếu, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Chuyên ngành

Công Tác Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp

2020

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. PHẦN I: MỞ ĐẦU

1.1. Lý do lựa chọn đề tài

1.2. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.3. Mục tiêu nghiên cứu

1.4. Nội dung nghiên cứu

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp

1.6.2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

1.6.3. Phương pháp phân tích, xử lý số liệu

1.7. Kết cấu luận văn

2. PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

2.1.1. Cơ sở lý luận về BHYT cho người DTTS

2.1.2. Khái niệm sức khỏe

2.1.3. Khái niệm bảo hiểm y tế

2.1.4. Bản chất của BHYT

2.1.5. Vai trò và tầm quan trọng của bảo hiểm y tế

2.1.6. Đối tượng tham gia và phạm vi BHYT

2.1.7. Khái niệm người DTTS

2.1.8. Sự cần thiết của bảo hiểm y tế cho người DTTS

2.1.9. Cơ sở thực tiễn

2.1.9.1. Chính sách, pháp luật của Nhà nước về BHYT cho người DTTS
2.1.9.2. Khái quát chung về đặc điểm xã Võ Miếu, Thanh Sơn, Phú Thọ
2.1.9.2.1. Khái quát chung
2.1.9.2.2. Đặc điểm dân số, lao động
2.1.9.2.3. Đặc điểm kinh tế của xã Võ Miếu
2.1.9.2.4. Về xây dựng cơ bản
2.1.9.2.5. Đặc điểm văn hóa xã hội

2.2. CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƯỜI DTTS TẠI XÃ VÕ MIẾU, THANH SƠN, PHÚ THỌ

2.2.1. Tình hình thực hiện BHYT cho người DTTS tại Võ Miếu

2.2.2. Công tác rà soát, xác minh

2.2.3. Công tác tổ chức cấp phát thẻ BHYT cho người DTTS

2.2.4. Thực trạng mạng lưới y tế và tình hình thực hiện khám chữa bệnh BHYT cho người DTTS tại tuyến y tế cơ sở trên địa bàn xã Võ Miếu

2.2.5. Đánh giá của người DTTS về việc khám chữa bệnh bằng BHYT trên địa bàn xã Võ Miếu, Thanh Sơn, Phú Thọ

2.3. CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ

2.3.1. Đánh giá chung về tình hình thực hiện BHYT cho người DTTS tại xã Võ Miếu

2.3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện BHYT cho người DTTS tại xã Võ Miếu

2.3.2.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người DTTS về lợi ích BHYT trong khám chữa bệnh
2.3.2.2. Nâng cao chất lượng mạng lưới y tế
2.3.2.3. Đổi mới chính sách, cơ chế đi đôi với tăng cường quản lý tài chính y tế các cơ sở khám chữa bệnh
2.3.2.4. Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế trong việc khám chữa bệnh, đầu tư trang thiết bị y tế
2.3.2.5. Huy động nguồn lực tài chính từ xã hội
2.3.2.6. Đầu tư kinh phí phát triển y tế
2.3.2.7. Tăng cường công tác quản lý y tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số tại xã Võ Miếu

Bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng tại Việt Nam, đặc biệt là đối với người dân tộc thiểu số (DTTS). Tại xã Võ Miếu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, chính sách này đã được triển khai nhằm đảm bảo quyền lợi khám chữa bệnh cho người DTTS. Tuy nhiên, việc thực hiện BHYT vẫn gặp nhiều thách thức, cần được nghiên cứu và cải thiện.

1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế

BHYT là hình thức bảo hiểm do Nhà nước tổ chức nhằm huy động sự đóng góp của cộng đồng để chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Vai trò của BHYT không chỉ giúp giảm gánh nặng tài chính cho người dân mà còn đảm bảo quyền lợi khám chữa bệnh cho người DTTS.

1.2. Tình hình thực hiện BHYT tại xã Võ Miếu

Tại xã Võ Miếu, tỷ lệ người DTTS tham gia BHYT đã tăng lên đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người chưa được cấp thẻ BHYT hoặc gặp khó khăn trong việc sử dụng thẻ khi khám chữa bệnh.

II. Vấn đề và thách thức trong bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số

Mặc dù chính sách BHYT đã được triển khai, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức trong việc thực hiện. Những khó khăn này ảnh hưởng đến quyền lợi và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của người DTTS tại xã Võ Miếu.

2.1. Khó khăn trong việc cấp thẻ BHYT

Việc cấp thẻ BHYT cho người DTTS tại xã Võ Miếu còn chậm chễ, dẫn đến tình trạng thiếu thẻ hoặc cấp thẻ sai thông tin. Điều này gây khó khăn cho người dân khi đi khám chữa bệnh.

2.2. Nhận thức hạn chế về quyền lợi BHYT

Nhiều người DTTS vẫn chưa hiểu rõ quyền lợi của mình khi tham gia BHYT. Điều này ảnh hưởng đến việc họ tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế một cách hiệu quả.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số

Để nâng cao hiệu quả thực hiện BHYT cho người DTTS tại xã Võ Miếu, cần có những giải pháp cụ thể. Các phương pháp này sẽ giúp cải thiện tình hình và đảm bảo quyền lợi cho người dân.

3.1. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền

Cần tăng cường công tác tuyên truyền về lợi ích của BHYT cho người DTTS. Việc này giúp nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia BHYT.

3.2. Cải thiện chất lượng dịch vụ y tế

Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh sẽ giúp người DTTS yên tâm hơn khi sử dụng thẻ BHYT. Cần đầu tư vào cơ sở hạ tầng và trang thiết bị y tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về bảo hiểm y tế

Nghiên cứu tình hình thực hiện BHYT cho người DTTS tại xã Võ Miếu đã chỉ ra nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi và đánh giá để có những điều chỉnh kịp thời.

4.1. Kết quả khảo sát thực tế

Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ người DTTS tham gia BHYT đã tăng lên, nhưng vẫn còn nhiều người chưa được cấp thẻ hoặc gặp khó khăn trong việc sử dụng.

4.2. Đánh giá của người dân về BHYT

Người dân tại xã Võ Miếu đánh giá cao chính sách BHYT, nhưng họ cũng bày tỏ mong muốn cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và quy trình cấp thẻ.

V. Kết luận và tương lai của bảo hiểm y tế cho người dân tộc thiểu số

BHYT cho người DTTS tại xã Võ Miếu là một chính sách quan trọng, nhưng cần có những cải cách để nâng cao hiệu quả. Tương lai của BHYT phụ thuộc vào sự quan tâm và đầu tư từ các cấp chính quyền.

5.1. Định hướng phát triển BHYT trong tương lai

Cần có những chính sách cụ thể để phát triển BHYT cho người DTTS, đảm bảo quyền lợi và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

5.2. Vai trò của cộng đồng trong việc thực hiện BHYT

Cộng đồng cần tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và hỗ trợ người DTTS trong việc tiếp cận và sử dụng BHYT.

27/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần Mở đầu, Kết luận, khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về BHYT cho ngƣời DTTS Chƣơng 2. Tình hình thực hiện Bảo hiểm y tế cho ngƣời DTTS tại xã Võ Miếu, Thanh Sơn, Phú Thọ Chƣơng 3. Đề xuất và khuyến nghị.

5 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ CHO NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.Cơ cở lý luận về BHYT cho ngƣời DTTS 1.Khái niệm sức khỏe Theo Tổ chức y tế thế giới “Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thƣơng tật”.Khái niệm bảo hiểm y tế Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “là loại bảo hiểm do Nhà nƣớc tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân". Cũng nhƣ hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho ngƣời tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật. Theo Luật BHYT do Quốc hội ban hành ngày 14/11/2008, BHYT là hình thức bảo hiểm đƣợc áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện và các đối tƣợng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật.

Về cơ bản, đó là một cách dành dụm một khoản tiền trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình để đóng vào quỹ do Nhà nƣớc đứng ra quản lý, nhằm giúp mọi thành viên tham gia quỹ có ngay một khoản tiền trả trƣớc cho các cơ sở cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, khi ngƣời tham gia không may ốm đau phải sử dụng các dịch vụ đó, mà 18 không phải trực tiếp trả chi phí khám chữa bệnh. Cơ quan BHXH sẽ thanh toán khoản chi phí này theo quy định của Luật BHYT. 6 BHYT là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng, là cơ chế tài chính vững chắc giúp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Chính sách BHYT của Việt Nam đƣợc bắt đầu thực hiện từ năm 1992.

Trong suốt hơn 20 năm qua, BHYT đã khẳng định tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nƣớc, phù hợp với tiến trình đổi mới đất nƣớc. BHYT còn góp phần đảm bảo sự công bằng trong khám chữa bệnh, ngƣời lao động, ngƣời sử dụng lao động và ngƣời dân nói chung ngày càng nhận thức đầy đủ hơn về sự cần thiết của BHYT cũng nhƣ trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội [9]. Đông đảo ngƣời lao động, ngƣời nghỉ hƣu, mất sức, đối tƣợng chính sách xã hội và một bộ phận ngƣời nghèo yên tâm hơn khi ốm đau đã có chỗ dựa khá tin cậy là BHYT.Bản chất của BHYT BHYT trƣớc hết là một nội dung của BHXH - một trong những bộ phận quan trọng của hệ thống bảo đảm xã hội hay còn gọi là hệ thống an sinh xã hội. Cùng với các hệ thống cung cấp (hay còn gọi là chế độ ƣu đãi xã hội, chế độ bao cấp) và hệ thống cứu trợ xã hội, hoạt động của BHYT nói riêng và hoạt động của BHXH nói chung, đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự bình ổn xã hội.

Chính vì vai trò cực kỳ quan trọng của BHXH nhƣ vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do Nhà nƣớc đứng ra tổ chức thực hiện theo hệ thống pháp luật về BHXH. Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt giữa BHXH về y tế và bảo hiểm tƣ nhân về y tế. Trong các nƣớc công nghiệp phát triển thì loại hình BHYT tƣ nhân cũng đƣợc phát triển và cùng tồn tại song song với BHXH về y tế. Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang đề cập đến BHXH về y tế hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp.Thực ra BHXH ở nƣớc ta hiện có các chế độ: Chế độ trợ cấp ốm đau, Chế độ trợ cấp thai sản, Chế độ trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, Chế độ hƣu trí, Chế độ tử tuất thì cũng có thể hiểu BHYT là Chế độ khám chữa bệnh.

Khi lâm bệnh, ngƣời bệnh buộc phải đến các cơ sở y tế để đƣợc khám chữa bệnh (KCB). Cũng từ bệnh tật, nhất là những bệnh tật kinh niên, bệnh mãn tính hoặc bệnh hiểm nghèo đã dẫn đến các khoản chi phí KCB cực kỳ lớn. Có những ngƣời bệnh phải đƣợc sử dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong việc chẩn đoán 7 và chữa trị bệnh, phải sử dụng các loại thuốc đắt tiền và phải lƣu trú dài ngày tại bệnh viện. Những khoản chi phí này không phải ai cũng có thể tự lo liệu đƣợc.

Bệnh tật đã dồn con ngƣời vào những thảm cảnh đáng lo ngại. Đối với những ngƣời bệnh do hoàn cảnh nghèo túng thì phải vay mƣợn để chữa trị bệnh tật và sau đó trả nợ và có nhiều ngƣời cũng không thể vay mƣợn để tiếp tục đƣợc chữa trị. Những ngƣời có điều kiện kinh tế khá giả hơn hoặc cận nghèo thì sau những đợt bệnh tật cũng có thể bị đẩy vào tình cảnh nghèo khó. Đồng thời, với bệnh tật cũng kéo theo sự mất mát về thu nhập do ngƣời bệnh không có sức khoẻ để làm việc.

Từ đó đã đe doạ đến cơ sở kinh tế và sự tồn tại trƣớc hết của bản thân những ngƣời lao động, sau đó đến các thành viên, những ngƣời ăn theo trong gia đình ngƣời bệnh và sau đó ảnh hƣởng đến sự ổn định xã hội. Do vậy, ngƣời ta phải cần đến BHYT. BHYT sẽ đảm bảo chi trả toàn bộ hoặc từng phần (tuỳ theo điều kiện kinh tế xã hội của từng nƣớc) những chi phí KCB "khổng lồ" nói trên, giúp cho ngƣời bệnh vƣợt qua cơn hoạn nạn về bệnh tật, sớm phục hồi sức khoẻ cũng nhƣ ổn định cuộc sống gia đình. BHYT sẽ bảo đảm cho những ngƣời tham gia BHYT và các thành viên gia đình của họ những khả năng để đề phòng, ngăn ngừa bệnh tật; phát hiện sớm bệnh tật; chữa trị và khôi phục lại sức khoẻ sau bệnh tật.

Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau (chi trả tiền thay thế tiền lƣơng trong những ngày ốm đau không làm việc đƣợc) đều có cùng phƣơng thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử, tập quán của từng nƣớc mà BHYT có thể bao gồm cả chế độ khám chữa bệnh, chế độ thai sản và chế độ ốm đau hoặc đƣợc tách ra theo từng chế độ riêng biệt. Điều đó liên quan đến phạm vi đối tƣợng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ đƣợc hƣởng. Ở các nƣớc công nghiệp phát triển ngƣời ta định nghĩa BHYT trƣớc hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tƣơng trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của ngƣời tham gia BHYT. Nhƣ vậy, trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia xẻ rủi ro rất cao; nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe; nó điều tiết mạnh mẽ giữa ngƣời khoẻ mạnh với ngƣời ốm yếu, giữa thanh niên 8 với ngƣời già cả và giữa ngƣời có thu nhập cao với những ngƣời có thu nhập thấp.

Sự đoàn kết tƣơng trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng ngƣời dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau. Theo định nghĩa BHYT nêu trên, thì sự đoàn kết tƣơng trợ vừa mang một ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất về quan điểm chung. Ngƣời ta còn cho rằng: Đoàn kết tƣơng trợ là nền tảng xã hội cho sự phát triển của mỗi chế độ xã hội loài ngƣời và nó mang lại một gƣơng mặt nhân đạo mới cho chế độ xã hội đó. Tính nhân đạo của hoạt động đoàn kết tƣơng trợ sẽ đánh dấu bƣớc tiến bộ của thể chế xã hội.

Đây cũng chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thƣờng đề cập đến. Tuy nhiên đoàn kết tƣơng trợ không chỉ là quyền đƣợc nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp. Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội đƣợc gắn bó với sự đoàn kết đƣợc thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt đƣợc sự bền chặt về đoàn kết thì cần thực hiện nhiều hơn sự công bằng. Điều đó chỉ có thể đƣợc tạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực tế, vì "sự công bằng" là yếu tố động, nó chỉ đạt đƣợc tại một thời điểm, còn lại đều là sự không công bằng.

Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội. Do vậy, cần phải có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thƣờng xuyên nhằm đảm bảo mối quan hệ tƣơng thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động của BHYT. Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phƣơng diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHXH - trƣớc hết phải kể đến BHYT là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần bảo đảm sự bình đẳng và công bằng xã hội. Nếu nhìn trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phƣơng diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHXH - trƣớc hết phải kể đến BHYT là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần bảo đảm sự bình đẳng và công bằng xã hội.

Hệ thống BHXH về y tế ngay từ khi hình thành đã không định hƣớng theo mức độ rủi ro mà định hƣớng theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi trả trực tiếp. Điều đó đƣợc thể hiện rất rõ 9 là: khi bị ốm đau thì ngƣời bệnh sẽ đƣợc chữa trị cho đến khi khoẻ mạnh trở lại bằng mọi phƣơng pháp, kỹ thuật y tế hiện thời mà không căn cứ vào trƣớc đó họ đã đóng góp BHXH đƣợc bao nhiêu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ