Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Dạy học trực tuyến là hoạt động dạy học thông qua phần mềm ứng dụng trên môi trường internet, đảm bảo GV và HS tương tác đồng thời hoặc không đồng thời trong quá trình dạy học. Mục đích chính của của dạy học trực tuyến bao gồm : - Mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục cho HS. Đặc biệt là khi HS không thể đến trường tham gia học tập vì những lí do khách quan. - Bổ trợ cho phương thức dạy học trên lớp học giáp mặt (sau đây gọi tắt là dạy học trực tiếp) nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy và học, khuyến khích sự sáng tạo của GV và HS.
Tạo cơ hội cho GV và HS được quyền chủ động tiếp cận nguồn học liệu hữu ích trên Internet phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của mình. - Nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học cho GV và HS, góp phần đổi mới phương pháp dạy và học, kiểm tra đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục. Góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Giáo dục và Đào tạo. Căn cứ theo mức độ ứng dụng phần mềm ứng dụng trên môi trường internet vào trong dạy học, có thể phân loại hình thức dạy học trực tuyến thành 2 loại : hình thức dạy học E-learning và hình thức dạy học B-learing.
Trong đó hình thức dạy học dạy E-learning là hình thức dạy học trực tuyến hoàn toàn ; hình thức dạy học B-learing là hình thức dạy học kết hợp các hoạt động dạy học trực tiếp, giáp mặt giữa thầy và trò (face to face) với các hoạt động dạy học trực tuyến thông qua môi trường internet. Dạy học trực tuyến với hai hình thức E-learning và B-learning đã và đang được nghiên cứu, vận dụng, triển khai trong nhiều năm qua trên toàn cầu. Các nghiên cứu về lĩnh vực này bao gồm : 4 1) Lí luận về dạy học dạy học trực tuyến, bao gồm cả E-learning và B- learning : cấp độ trực tuyến, mức độ trực tuyến và trực tiếp, mô hình trực tuyến … 2) Xây dựng : hệ thống quản lí học tập trực tuyến (LMS - Learning Management System), hệ thống quản lí nội dung học tập trực tuyến (LCMS - Learning Content Management System), phần mềm tổ chức dạy học trực tuyến đồng thời và phần mềm tổ chức dạy học trực tuyến không đồng thời. 3) Đánh giá hiệu quả của việc vận dụng hình thức dạy học E-learning và B- learning trong tổ chức dạy học ở các cấp học, bậc học trong các học phần hoặc môn học cụ thể, đáp ứng mục tiêu dạy học trong bối cảnh dạy học nhất định.
4) Xu hướng phát triển, thay đổi của dạy học B-learning trong tương lai (liên quan đến công nghệ, vai trò của người thầy, vai trò của cố vấn học tập, các kĩ năng đạt được …) 1. NGHIÊN CỨU VỀ DẠY HỌC B-LEARNINGTRÊN THẾ GIỚI 1. Xu hướng triển khai dạy học E-learning và dạy học B-learning Khi phân tích tình hình nghiên cứu dạy học trực tuyến trên thế giới, theo [2], dạy học trực tuyến E-learning đã phát triển khá rầm rộ trong giai đoạn thập niên cuối cùng của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Theo đó, tại Mỹ, dạy học E- learning đã được triển khai từ những những năm cuối thế kỉ XX.
Khi đó E- learning không chỉ được triển khai ở các truờng học mà ngay ở các công ty, doanh nghiệp. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh của E-learning, hàng loạt công ty, doanh nghiệp đã chuyển sang hướng nghiên cứu và xây dựng các giải pháp về E-learning như : Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force…Ngay sau khi E-learning triển khai và phát triển hiệu quả tại Mỹ, các nước trong cộng đồng Châu Âu rồi châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapour …) đã thúc đẩy sự phát triển E-learning bằng các chiến lược hành động sử dụng và nghiên cứu E-learning khá toàn diện. Đến cuối năm 1999, đã có trên 1000 trường đại học trên thế giới đã triển khai các khoá học trực tuyến E-learning; gần 2500 trụ sở cơ quan trong 81 quốc gia có các hoạt động liên quan đến E-learning như ứng dụng E-learning trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, huấn luyện 5 nhân viên; nghiên cứu phát triển E-learning … Những năm đầu thế kỷ XXI, E- learning cũng đã và đang triển khai cho HS phổ thông, điển hình là các nước Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản. Ở Mỹ đã có hàng triệu HS phổ thông đăng kí học trực tuyến.
Đưa lớp học lên mạng internet là một trào lưu đã và đang bùng nổ tại nước này. Không chỉ là một phong trào tự phát, tại nhiều bang ở Mỹ các nhà quản lí giáo dục đã ban hành quy định trước khi được công nhận tốt nghiệp, mỗi HS phải đăng ký học một số môn nhất định tại các lớp học trực tuyến. Các lớp học trực tuyến này có thể được tổ chức tập trung tại các trường hoặc HS có thể học tại nhà. Theo lí giải của các nhà quản lí, đây là bước chuẩn bị nhằm trang bị cho HS những kĩ năng cần thiết cho việc học tại các trường đại học sau này và thích ứng với môi trường làm việc của thế kỉ XXI.
Theo ước tính của Bộ Giáo dục Mỹ, tính đến năm học 2007- 2008, nước này đã có khoảng 770 trường phổ thông áp dụng phương thức học trực tuyến, với khoảng 1,03 triệu HS (trong đó có hơn 200.000 HS học trực tuyến toàn phần). Cũng theo [2], là một quốc gia Châu Á, nhưng nền giáo dục của Hàn Quốc đã không ngần ngại đầu tư cho E-learning. Hàng tỉ USD cho phát triển giáo dục thông qua internet, gấp 10 lần vào năm 2014. Hàn Quốc phấn đấu trở thành một tiêu điểm về xu hướng giáo dục mới để thế giới nhìn vào.
“Trường học trên mạng” (Web school) ra đời và trở thành nổi tiếng, Megastudy là một điển hình và trở thành mạng giáo dục trực tuyến lớn nhất tại Hàn Quốc, với doanh số hàng năm lên đến 245 tỉ won (3.500 tỉ đồng Việt Nam). Lượng HS theo học các cấp được phân ra: trung học phổ thông (www.net) với 2,1 triệu người ghi danh, trung học cơ sở (www.net) với 2 triệu người, tiểu học (www.net) với 3,7 triệu người. Thuật ngữ hình thức dạy học B-learning hay dạy học kết hợp được sử dụng vào cuối thế kỷ XX khi xuất hiện nhu cầu kết hợp giữa dạy học giáp mặt (face to face) với dạy học trực tuyến thông qua internet. Khái niệm về B- learning được phát triển dần.
Từ năm 2006 đến nay, B-learning được hiểu là một sự kết hợp DH giáp mặt (face to face) và DH trên nền tảng công nghệ trung gian (Technology mediated). Graham định nghĩa B-learning là sự kết hợp giữa hướng dẫn giáp mặt và hướng dẫn qua máy tính [64] Trong tài liệu của Knewton định nghĩa DH B-learning cung cấp mọi lúc để HS học tập, có ít nhất một phần học trên lớp và một phần qua mạng có sự kiểm soát về thời gian, địa điểm, lộ trình và tiến độ [100]. Horn định nghĩa hình thức dạy học B-learning là một chương trình giáo dục chính quy mà ở đó HS học một phần trực tuyến, có sự kiểm soát về thời gian, địa điểm, lộ trình và tiến độ. Có ít nhất một phần giảng dạy trên lớp và các hình thức học tập của từng HS phải được liên kết với nhau tạo sự thống nhất.
Cách thức học tập khóa học, môn học của HS được kết nối để cung cấp trải nghiệm học tập tích hợp [82]. Như vậy, có thể coi B-learning là mô hình hay hình thức học tập mà HS phải kết hợp học trên lớp và qua mạng để hoàn thành nhiệm vụ học tập. Cùng với sự phát triển của E-learning, dạy học B-learning đã trở thành xu hướng học tập, nghiên cứu, ứng dụng toàn cầu. Dạy học theo B-learning, hay học tập kết hợp đã được áp dụng rộng rãi trong các môi trường giáo dục, kinh doanh.
Báo cáo này cung cấp số liệu báo cáo rằng: i) Tại Mỹ, học tập theo B-learning đang gia tăng theo cấp số nhân với mô hình K – 12. Số HS tham gia K – 12 B-learning tăng từ 45.000 lên hơn 4 triệu từ năm 2000 đến 2010 (Horn, Staker, Hernandez, HassE-learning, và AB- learningeidinger 2011) [80]. ii) Các trường ở 24 tiểu bang và đặc khu Columbia đã hoàn toàn là trường triển khai dạy học B-learning; đến năm 2016 số HS K-12 ghi danh họ tập B- learning có thể đạt 5 đến 6 triệu HS K-12 trên toàn nước Mỹ. iii) Trên toàn thế giới, học tập kết hợp B-learning đang mở rộng tương tự như ở Mỹ (Barbour 2014; Barbour và cộng sự 2011; Barbour và Kennedy 2014) 7 [61], nhất là ở Canada, Ấn Độ, New Zealand, Hàn Quốc và hầu hết các quốc gia châu Âu.
Theo đó, ở các nước và khu vực này tồn tại cả học tập giáp mặt, học tập trực tuyến toàn phần E-learning và học tập kết hợp B-learning. Tại Việt Nam, cùng với xu hướng hội nhập và nhu cầu phát triển đất nước, việc triển khai dạy học E-learning và B-learning đã và đang từng bước phát triển phù hợp với bối cảnh kinh tế, giáo dục của địa phương, bộ ngành. Chính sách của Nhà nước về ứng dụng và phát triển CNTT trong Luật CNTT 2006 đã nêu rõ: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển CNTT trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.” “Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển cơ sở hạ tầng thông tin quốc gia.”, cho phép ứng dụng những thành tựu của CNTT vào trong GD&ĐT thuận lợi. Quyết định số 711/QĐ-Ttg ngày 13/6/2012 phê duyệt Chiến lược Phát triển GD&ĐT giai đoạn 2011- 2020 đã yêu cầu ngành GD phải từng bước phát triển GD dựa trên CNTT “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT trong dạy và học, đến năm 2015, 100% GV ĐH, cao đẳng và đến năm 2020, 100% giảng viên giảng dạy nghề nghiệp và phổ thông có khả năng ứng dụng CNTT &TT trong dạy học, biên soạn và sử dụng giáo trình, sách giáo khoa điện tử”.
Chỉ thị số 5444/BGDĐT-GDĐH, ngày 16 tháng 11 năm 2017 của Bộ GD và đào tạo (2017) về áp dụng cơ chế đặc thù đào tạo các ngành thuộc lĩnh vực CNTT trình độ ĐH, yêu cầu các trường ĐH “tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác đào tạo, áp dụng phương thức đào tạo trực tuyến, đào tạo kết hợp (B- learning) và đào tạo thực hành tại doanh nghiệp. Triển khai hệ thống đào tạo trực tuyến dùng chung, xây dựng nguồn tài nguyên dùng chung (đặc biệt kho học liệu điện tử dùng chung)” [6]. Cũng trong năm 2017, chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04 tháng 05 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ được triển khai.