mở đầu cho quá trình tố tụng hình sự (TTHS). Sau khi thu thập đầy đủ chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của tội phạm thì Cơ quan điều tra đề nghị truy tố thong qua bản kết luận điều tra. Sau khi nhận hồ sơ của Cơ quan điều tra, VKS xác định có đủ căn cứ để truy tố thì ra quyết định truy tố bị can ra trước TA có thẩm quyền bằng bản cáo trạng. Vụ án được TA đưa ra xét xử trong thời hạn quy định, khi không có căn cứ để trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.
Đối với hoạt động xét xử của TA phải tuân thủ nghiêm theo quy định của BLTTHS từ khi thụ lý hồ sơ, đưa vụ án ra xét xử và ra bản án, quyết định. Khi xét xử phải tuân thủ các nguyên tắc: nguyên tắc khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (HTND) độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật; xét xử tập thể và biểu quyết theo đa số, v. Kết quả sau quá trình xét hỏi các bị cáo trong vụ án, TA phải ra quyết định đối với hành vi phạm tội đã được tranh luận tại phiên tòa. Ở bước này, TA sẽ tiến hành xem xét, giải quyết một vụ án hình sự cụ thể đó là: quyết định việc bị cáo có tội hay không có tội, định tội danh cụ thể, HP và các biện pháp tư pháp cần áp dụng và các vấn đề liên quan khác như bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, án phí.
Sau khi xét xử sơ thẩm, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án nếu như có kháng cáo của bị cáo hoặc kháng nghị của VKS thì TA cấp trên trực tiếp sẽ xét xử phúc thẩm vụ án (Điều 330 BLTTHS). Việc giám đốc thẩm vụ án hình sự được thực hiện khi VKS kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án thì TA có thẩm quyền xem xét lại bản án của TA đã có hiệu lực pháp luật (Điều 370 BLTTHS). Thủ tục Tái thẩm vụ án hình sự là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TA nhưng bị VKS kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà TA không biết được khi ra bản án, quyết định đó (Điều 397 BLTTHS). 10 Như vậy, áp dụng HP là kết quả của hoạt động xét xử vụ án hình sự của TA.
Để áp dụng HP một cách chính xác và khách quan, Thẩm phán TA và Hội thẩm thuộc thành phần của HĐXX phải căn cứ vào những tài liệu có trong hồ sơ vụ án cùng kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ vào các quy định về HP được quy định trong BLHS để áp dụng. HP được áp dụng đối với người phạm tội phải trải qua quá trình tố tụng để chứng minh hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm, nhân thân người phạm tội cùng các tình tiết có ý nghĩa đối với vụ án, đồng thời, phải đảm bảo quá trình tố tụng được đảm bảo thực hiện theo các quy định của pháp luật, đảm bảo các cấp xét xử của TA để áp dụng HP đúng người, đúng tội. Từ những nhận thức đã có, có thể thấy được những đặc điểm cơ bản của áp dụng HP: - Áp dụng HP chỉ được tiến hành khi có tội phạm được thực hiện. Không có hành vi phạm tội xảy ra thì không có áp dụng pháp luật, áp dụng HP.
- Hoạt động áp dụng HP mang tính quyền lực Nhà nước, chủ thể trực tiếp thực hiện quyền áp dụng HP của TA là HĐXX. Nhà nước thông qua hoạt động xét xử của TA cùng bản án do HĐXX tuyên để quyết định một cá nhân hay tổ chức có tội hay không. Điều 254 BLTTHS năm 2015 quy định: “HĐXX sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì HĐXX sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.
Đối với vụ án có bị cáo về tội mà BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm; 2. HĐXX phúc thẩm gồm ba Thẩm phán”. Các phán quyết của TA được thể hiện trong bản án về việc áp dụng HP luôn làm phát sinh hậu quả pháp lý để trừng trị, giáo dục người phạm tội, các phán quyết này được thi hành bằng biện pháp cưỡng chế Nhà nước nếu không được tự nguyện thi hành [25]. - Áp dụng HP là việc cá biệt hoá các quy định của BLHS về HP vào từng trường hợp cụ thể, mang tính tùy nghi, tính lựa chọn để đảm bảo việc áp dụng HP tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của từng hành vi phạm tội cụ thể, đảm bảo sự mềm dẻo, hiệu quả trong việc áp dụng HP.
11 - Hoạt động áp dụng HP được thực hiện tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do BLTTHS quy định nhằm hạn chế TA lạm dụng quyền hạn của mình, đảm bảo tính chính xác, khách quan trong phán quyết áp dụng HP. Áp dụng HP đúng có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng vì việc áp dụng HP sẽ phản ánh kết quả của quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Áp dụng HP đúng là yếu tố tiên quyết để quyết định đến mục đích của HP có được thực hiện hay không. Nếu HP được áp dụng quá nhẹ đối với người phạm tội sẽ tạo tâm lý coi thường pháp luật, tạo nên thói quen phạm tội do HP không mang tính chất trừng trị thích hợp.
Tuy nhiên, nếu HP quá nặng đối với người phạm tội sẽ làm cho họ có tâm lý thù hằn, buông xuôi, không còn niềm tin vào sự khoan hồng của pháp luật. Áp dụng HP đối với người phạm tội sẽ luôn có những ảnh hưởng đến những người khác về ý thức chấp hành và sống tôn trọng pháp luật. Như vậy, với khái niệm HP đã nêu ở mục trên, có thể hiểu áp dụng HP là “hoạt động áp dụng pháp luật hình sự tiếp theo sau khi định tội danh, thể hiện ở việc trên cơ sở hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xác định các tình tiết của vụ án, nhận thức đầy đủ quy định của BLHS, HĐXX xử lựa chọn loại HP cũng như mức HP để áp dụng đối với người phạm tội để tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của người đã thực hiện hành vi phạm tội đối với người bị kết tội và ra phán quyết trong bản án, tuân theo trình tự, thủ tục mà BLTTHS quy định”. Các nguyên tắc áp dụng hình phạt 1.
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Lênin đã đưa ra định nghĩa: “Pháp chế xã hội chủ nghĩa là một chế độ đặc biệt của đời sống chính trị - xã hội, trong đó tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, nhân viên Nhà nước và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện Hiến pháp, pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để chính xác. Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của tập thể, của công dân đều bị xử lý theo pháp luật”. Trong xã hội phong kiến, quản lý Nhà nước như thế nào phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà vua vì vậy dễ dẫn đến sự tùy tiện. Trong xã hội dân chủ, quản lý 12 Nhà nước phải tuân theo pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật là cơ sở minh bạch, công khai chống lại sự tùy tiện.
Đồng thời một trong những đặc trưng của cơ quan Nhà nước là tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật vì vậy nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩ phải được quán triệt trong tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước. Đây là nguyên tắc pháp lí cơ bản nhất trong hoạt động của cơ quan, tổ chức và công dân được quy định ở Điều 8 Hiến pháp năm 2013 như sau: “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lí xã hội bằng Hiển pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ". Tại Điều 2 BLHS năm 2015 đã quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Như vậy, trong BLHS nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa thể hiện rất rõ: chỉ khi nào hành vi của con người cụ thể đã được thực hiện, hành vi ấy được BLHS quy định thì họ mới phải chịu trách nhiệm hình sự.
Việc TA áp dụng HP phải căn cứ vào các quy định của BLHS nhằm buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình gây ra [65]. Việc áp dụng HP phải đảm bảo nguyên tắc tiên quyết là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm việc điều tra, truy tố là cơ sở cho việc xét xử, áp dụng HP được nghiêm chỉnh tuân theo Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm mức HP được áp dụng tương xứng với hành vi vi phạm, bảo đảm tính nghiêm minh triệt để của pháp luật hình sự, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội và lợi ích hợp pháp của công dân khi có hành vi vi phạm của người xâm phạm đến những quyền, lợi ích hợp pháp đó [49]. Như vậy, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong áp dụng HP là việc bảo đảm việc TA áp dụng các quy định của BLHS về HP vào từng trường hợp phạm tội cụ thể để áp dụng HP đối với người phạm tội. Nguyên tắc đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa không những là một trong các nguyên tắc trong áp dụng HP của TA nói riêng mà còn là nguyên tắc cơ bản, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động trong tố tụng hình sự nói chung.
Nguyên tắc này quy định tại Điều 7 BLTTHS năm 2015 như 13 sau: “Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải được thực hiện theo quy định của Bộ luật này. Không được giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử ngoài những căn cứ và trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định”.