Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học 1. Nguồn gốc và vị trí phân loại của dê 1. Nguồn gốc của dê Hiện nay đã có rất nhiều nhà khoa học ở các nước khác nhau đã nghiên cứu về nguồn gốc của dê, tuy còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này song phần lớn ý kiến đều cho rằng dê là một trong những loài động vật được thuần hóa từ lâu đời và được con người nuôi cách đây hơn hai vạn năm, trong đó các nước Trung Đông, Ấn Độ nuôi từ rất sớm và phần lớn các nhà khoa học cho rằng dê được thuần hóa từ 3 trung tâm: Trung tâm cổ nhất là trung tâm Cận Á - Ấn Độ, giống dê ở đây giống với dê sừng xoắn (Capra falconeri) hiện còn sống ở miền tây Hymalaya, Kasơmia, Afganistan, loài dê này có sừng xoắn lên trên.
Trung tâm Cận Á có giống dê với nguồn gốc từ loài dê rừng (Capra Aegagrus), hiện còn sống ở miền Tây Ấn Độ, Cáp Ca, Tiểu Á và quần đảo Hy Lạp. Loài này có sừng dẹp xuôi xuống 2 bên vai và cong về phía sau. Trung tâm Đông Nam Á là trung tâm mới nhất, ở đây việc nuôi dê bắt đầu từ thời kỳ đồ đồng. Nơi đây là nguồn gốc của các loài dê núi (Capra Prisca).
Sừng của loài dê này cong về phía sau, đi sang hai bên và hơi xoắn một chút. Giống dê này sau khi được thuần hóa thì được nuôi phổ biến ở châu Âu, châu Á và châu Phi. Theo một số tài liệu khác, dê nhà đã xuất hiện khoảng 6 - 7 nghìn năm trước Công nguyên. Khó xác định chính xác thời điểm mà con người thuần dưỡng loài dê và chỉ có thể cho rằng sự thuần dưỡng dê đã xảy ra ở vùng Tây Á hoặc quanh vùng này.
Phần lớn những dê rừng này có bộ lông đen, có lông dài ở khuỷu chân, từ đây dê được nuôi phổ biến sang các vùng. Việc nghiên cứu nguồn gốc của dê, ngoài ý nghĩa về lý luận còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Bởi vì sự hiểu biết về những biến đổi lịch sử của động vật sẽ giúp cho việc sử Luan van 4 dụng các cá thể hoang dã đã thuần hóa để lai khác loài và tạo ra những giống mới phù hợp với yêu cầu của thực tiễn sản xuất hơn. Vị trí của dê trong hệ thống phân loại động vật Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng dê nhà có tên khoa học là: Caprahicus, thuộc loài dê (Capra), họ phụ dê cừu (Caprarovance) với 2 chi Caprinae và Hemirragus thuộc họ sừng rỗng (Bovidae) bộ phụ nhai lại (Ruminantia), bộ guốc chẵn (Artiodactila), lớp có vú (Mammalia).
Theo Nguyễn Đình Rao và cs. - Ngành (Phylum): Chordata - Lớp (Class): Mammalia - Bộ (Oder): Atiodactyla - Bộ phụ nhai lại: Ruminantia - Họ (Family): Bovidae - Họ phụ dê cừu: Caprarovance - Chủng (Genus): Capra - Loài (Species): Caprahircus Tuy dê được xếp cùng trong họ phụ dê cừu nhưng nó khác hẳn cừu không chỉ ở ngoại hình, mà dê còn khác về tập tính hoạt động như thích leo trèo núi đá, ăn được rất nhiều loại lá cây mà cừu và các loại gia súc khác không ăn được. Dê là con vật hiếu động, dễ dàng di chuyển và có thể sử dụng những diện tích đồng cỏ rộng, bởi vậy nhiều nước nuôi dê chủ yếu theo phương pháp chăn thả trên đồng cỏ. Đặc điểm của dê Bách Thảo và dê Cỏ 1.
Đặc điểm của dê Bách thảo Nguồn gốc: Dê Bách Thảo là một giống ở Việt Nam được hình thành từ việc lai giống giữa dê Alpine, dê British-Alpine của Pháp với dê Ấn Độ. Từ nhiều năm gần đây giống dê này đã được phát triển ở nhiều tỉnh ở Việt Nam. Luan van 5 Đặc điểm ngoại hình: Dê có màu lông tương đối đồng nhất hơn dê Cỏ, thường là đen chiếm khoảng 60%, còn lại là đen đốm trắng hoặc trắng đốm đen chiếm khoảng 40%, màu đen đốm trắng, trắng nâu, vàng các màu khác rất ít thấy. Nhìn chung dê Bách Thảo có bộ lông mượt sáng, phần lớn có hai dải lông trắng song song trên mặt, trắng ở bốn chân.
Dê Bách Thảo có màu lông đen sọc trắng, tai to cụp xuống. Điển hình của dê Bách Thảo là sống mũi dô, đầu dài trán lồi, tai to rủ cúp xuống, có hoặc không có sừng, miệng rộng và thô, phần lớn không có râu cằm. Đầu thô, dài, phần lớn dê không sừng, một số có sừng thì sừng nhỏ, chếch ra hai bên và chĩa về phía sau, nhiều con có hai mấu thịt ở cổ gọi là hoa tai. Ngoại hình dê cái thanh mảnh, đầu nhỏ, nhẹ, mình dài, phần sau phát triển hơn phần trước.
Da mỏng, lông nhỏ mịn. Bầu vú to, đều, mềm mại. Dê đực khỏe mạnh, hăng, không khuyết tật, đầu to, ngắn, trán rộng, thân hình cân đối, không quá béo hoặc quá gầy. Phần thân sau chắc chắn, bắp nở đều, 4 chân thẳng, khỏe.
Hai dịch hoàn đều và cân đối. Con cái có cấu tạo ngoại hình theo hướng của con vật cho sữa, bầu vú phát triển, có hình bát úp, núm vú dài 4 - 6 cm. Tập tính: Dê Bách Thảo tận dụng rất tốt các loại thức ăn thô xanh để chuyển hoá thành sản phẩm có giá trị. Dê có khả năng chịu đựng kham khổ và chống đỡ bệnh tật tốt, dễ nuôi, ít ốm đau, ít mắc bệnh, thích ứng rộng rãi với nhiều vùng.
Dê Bách Thảo còn có tính nết hiền lành, sạch sẽ, dễ gần, thích đùa với người nuôi, có thể nuôi nhốt hoàn toàn mà không hề phá phách. Dê bách thảo có đặc điểm sinh trưởng và phát triển nhanh, dễ nuôi, chịu được nhiệt độ cao, nắng nóng, thức ăn chủ yếu là các loại cây lá có được trong tự nhiên. Sau 6 - 7 tháng nuôi, có thể xuất chuồng. Sinh trưởng: Dê con sơ sinh nặng, 1,9 - 2,5 kg.
Dê 3 tháng tuổi (lúc cai sữa) nặng 10 - 12 kg, dê 6 tháng tuổi (lúc giết thịt) nặng 17 - 20 kg. Khối lượng cơ thể trưởng thành con đực nặng từ 75 - 80 kg/con, cao khoảng 85 - 90 cm, Luan van 6 còn con cái có trọng lượng từ 40 - 45 kg, cao 65 - 70 cm. Trung bình chiều cao vây con đực trưởng thành là 87,4 cm, con cái 66,8 cm, dài thân chéo con đực 85,0 cm, con cái 70,0 cm và vòng ngực con đực 93,0 cm, con cái 80,4 cm. Dê Bách Thảo cũng có khả năng cho thịt tốt, tỷ lệ thịt xẻ 40 - 45%, tỷ lệ thịt lọc đạt từ 30 - 35%.
Thịt dê có tỷ lệ vật chất khô, protein, mỡ đều thấp hơn so với thịt dê Cỏ, nhưng hàm lượng mỡ trong thịt thấp. Sinh sản: Dê đực có tuổi thành thục về tính lúc 4 - 6 tháng tuổi, nhưng lúc này tầm vóc cơ thể còn nhỏ, nên thường tuổi sử dụng thích hợp là khoảng 6 - 8 tháng tuổi trở lên, khi tầm vóc cơ thể đạt trên 50% khối lượng lúc trưởng thành. Dê cái Bách Thảo có tuổi thành thục sinh dục khoảng 6 - 7 tháng tuổi, tuổi động dục lần đầu trung bình 6 - 7 tháng, tuổi cho phối giống thích hợp thường chậm hơn một ít, khoảng 7 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt trên 50% khối lượng lúc trưởng thành. Dê cái cho nhiều sữa, mắn đẻ, dê con mau lớn.
Dê sinh sản nhanh tuổi phối giống lần đầu 7 - 8 tháng, cứ 7 tháng đẻ 1 lứa, lứa đầu đẻ một con, từ lứa thứ 2 trở đi đẻ hai con. Chu kỳ cho sữa cũng có thể thu được từ 0,8 - 1,2 lít/ngày, gấp 3 - 4 lẫn dê Cỏ, quy ra từ 1,1 - 1,4 kg/con/ngày với chu kỳ cho sữa là 148 - 150 ngày. Dê thường có tuổi đẻ lứa đầu lúc một năm tuổi, thời gian động dục lại sau khi đẻ trung bình 2 tháng, thời gian mang thai khoảng 5 tháng và khoảng cách hai lứa đẻ là 7 - 8 tháng, 75% lứa đẻ của dê là đẻ đôi hoặc ba. Thời gian chửa 146 - 157 ngày.
Đặc điểm về dê cỏ Nguồn gốc: Dê cỏ hay còn gọi là dê nội, dê ta hay dê địa phương là một giống dê nhà nội địa có nguồn gốc ở Việt Nam, đây là loài dê thịt phổ biến nhất ở Việt Nam. Đặc điểm ngoại hình: Dê cỏ có đầu to, đôi tai nhỏ, ngắn và dựng đứng lên, cặp sừng cũng ngắn, sắc lông màu trắng hoặc đen, có con khoang trắng đen, cổ ngắn có bờm và có râu cằm. Màu sắc lông da của giống dê này rất khác Luan van 7 nhau nhưng đa số có màu vàng nâu hoặc đen loang trắng hay loang đen. Theo Nguyễn Kim Lin và cs.
(2010) dê có màu lông không thuần nhất, vàng nâu hoặc loang, tập trung ở một số màu chính như đen, vàng, tro, cánh gián. Một số con vùng mặt có 2 sọc nâu đen. Dọc lưng từ đầu đến khấu đuôi có một dải lông đen, bốn chân có đốm đen. Đầu nhỏ, trán rộng và thô, mũi thẳng, mắt sáng, tai nhỏ hướng về phía trước, chân chắc khỏe, vận động linh hoạt.
Sinh trưởng: Dê cỏ có thân hình thấp nhỏ so với các giống dê ngoại nhập. Theo Trần Trang Nhung và cs. (2005) dê cỏ địa phương có tầm vóc nhỏ, khối lượng sơ sinh bình quân là 1,6 - 1,8 kg; khối lượng trưởng thành dê cái 25 - 30 kg, dê đực 35 - 40 kg, chiều cao vây con cái 50 - 54 cm, con đực là 55 - 58 cm. Thịt dê cỏ chắc, thơm và ngon được ưa chuộng, tuy vậy dê cỏ tầm vóc nhỏ, năng suất thịt thấp.
Khả năng cho sữa 350 - 370g/ngày với chu kỳ cho sữa từ 90 - 105 ngày. Sinh sản: Dê cỏ thành thục sớm, tuổi phối giống lần đầu 6 - 7 tháng. Dê Cỏ có khả năng sinh sản tốt, số con đẻ ra bình quân /lứa là 1,5 con; số lứa đẻ bình quân là 1,6 - 1,7 lứa/năm. Dê cái mang thai trung bình từ 145 - 155 ngày.
Năng suất sữa thấp, chỉ đủ nuôi con, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa 65 – 75%, phù hợp với chăn thả quảng canh và nuôi với mục đích lấy thịt. Dê con lúc mới đẻ đến khi cai sữa mất chừng 3 tháng. Dê cái non phải đạt 7 tháng tuổi và có trọng lượng xấp xỉ 30 kg mới cho phối giống lần đầu. Nên bỏ qua 2 lần động dục đầu tiên đến lần thứ 3 ba mới cho phối giống.
Cho phối giống với dê đực tốt và không đồng huyết. Đặc điểm sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của dê 1. Đặc điểm sinh trưởng của dê Khái niệm về sinh trưởng: Sinh trưởng là sự tăng thêm về khối lượng, kích thước, thể tích của từng bộ phận hay của toàn cơ thể con vật Đặng Vũ Bình (2007).