Đặt vấn đề Nêu lý do tính cap thiệt của đê tài đông thời dé ra mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đôi tượng nghiên cứu, sự đóng góp của nghiên cứu và câu trúc đê tải. Chương 2: Tổng quan tài liệu Trình bày các cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu bao gồm lý thuyết nên, giả thiết, mô hình đề xuất cho nghiên cứu và những tổng quan cơ bản về địa bàn nghiên cứu. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu. Trình bày các nội dung nghiên cứu của đề tài cũng như nêu ra cách thu thập mẫu, dữ liệu, 3 thang đo được sử dụng trong nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Trinh bày các kết quả có được từ nghiên cứu gồm việc phân tích các yếu tô ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng thực phẩm thủy sản hữu cơ, trong đó tập trung đánh giá vai trò của yếu tổ “thói quen” (yếu tổ được mở rộng so với mô hình góc). Chương 5: Kết luận và kiến nghị Đưa ra kết luận làm rõ các yếu tố ảnh hưởng thật sự đến hành vi tiêu dùng thực phẩm thủy sản hữu co. Cũng như dé ra các đề xuất được cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình khảo sát nghiên cứu và thảo luận. Từ đó rút ra những kiến nghị cho các đối tượng có liên quan khác như: người tiêu dùng, các nhà tiếp thị, các nhà hoạch định,.
nhằm góp phần cải thiện hiệu quả của việc tiêu thụ thực phẩm thủy sản hữu cơ tại TP. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.1 Tổng quan về dia bàn nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh (tên cũ là Sài Gòn) là thành phố lớn nhất Việt Nam về dân số và quy mô đô thị hóa. Nơi đây là đầu mối giao thông huyết mạch, kết nối các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế của vùng. Nằm trong vùng chuyên tiếp giữa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, thành phố này hiện có 1 thành phó, 16 quận và 5 huyện, với tổng diện tích 2.
Theo Tổng cục thống kê dân số thành phố 2021 là 9.800 người (chiếm 9,3% dân số Việt Nam), mật độ dân số trung bình 4.375 người/km? (cao nhất cả nước). Tuy nhiên, nếu bao gồm cả những cư dân chưa đăng ký, dân số thực tế của thành phô nảy có thê cao hơn nhiêu. Về kinh tế, năm 2020 thành phố đóng góp trên 22% GDP và 27% tổng thu ngân sách quốc gia. GDPR bình quân đầu người năm 2020 ước đạt 6.328 USD/người, đứng thứ 4 trong số các tỉnh, thành phố trong cả nước nhưng so với năm 2019 thì có xu hướng giảm (Hoàng Liêm, 2020).
Sơ bộ thu nhập bình quân đầu người năm 2019 là 6,758 triệu đồng/tháng, cao thứ hai cả nước. Về khí hậu, Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng cận nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Lượng bức xạ tương đối lớn, đạt trung bình khoảng 140 kcal/cm?/nam. Số giờ nắng trung bình trong ngày là gần 6 giờ.
Nhiệt độ khá cao và ôn định với nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,5°C. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng trong năm thấp, từ 2 — 39C. Nhìn chung khí hậu của thành phố tương đối ôn hòa, không có ngày đông lạnh, ít bão lũ. Đó là điều kiện thuận lợi dé phát triển các ngành kinh tế cũng như đời sống nhân dân.
Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh phải đối mặt với những vấn đề của một khu vực đô thị đang phát triển nhanh chóng. Theo Sở Quy hoạch và Kiến trúc Đô thi Thành phố Hồ Chí Minh, trong vòng chưa day ba thập ky, dân số Thành phố Hồ Chi Minh đã tăng gap đôi từ 4 triệu người năm 1990 lên 8 triệu người vào năm 2016. Nhu cầu về nhà ở tăng lên. Cứ 5 năm, dân số thành phố tăng hơn một triệu người.
Vào trung tâm thành phố, các 5 tuyến đường trở nên quá tải và tắc nghẽn. Hệ thống giao thông công cộng kém hiệu quả. Môi trường thành phố bị ô nhiễm bởi xe cộ, công trường và ngành sản xuất. Triều cường gây ngập một số khu phố cũng là van dé nan giải của thành phố con đường này.2 Tống quan về thị trường thực phẩm hữu cơ 2.1 Khái niệm về thực phẩm hữu cơ Ở các nước phương Tây, thực phẩm sạch là một khái niệm có từ khá lâu đời ở những năm 40 của thế kỷ trước (Klonsky & Tourte, 1998).
Dù có rất nhiều nghiên cứu về nó nhưng vẫn chưa có sự thống nhất cao về khái niệm thực phẩm hữu cơ từ các nhà nghiên cứu, mà chúng thường được định nghĩa bằng các dấu hiệu, đặc tính về sinh học: được sản xuất tự nhiên, sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, sản phẩm bền vững,. Thực phẩm hữu cơ được xem là sản phâm của nền nông nghiệp hữu cơ. Theo FAO/WHO (1999), nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất khuyến khích và tăng cường sức khỏe của hệ sinh thái nông nghiệp, bao gồm sự đa dang sinh học, sự tuần hoàn sinh học và hoạt động sinh học của đất. Nó chú trọng các biện pháp quản lý sử dụng các đầu vào trong vùng và áp dụng các phương pháp nông học, sinh học và cơ giới chứ không sử dụng các vật tư tổng hợp.
Và Liên đoàn Quốc tế về trào lưu Nông nghiệp Hữu cơ (IFOAM) cũng đã định nghĩa “Nông nghiệp hữu cơ là một hệ thống sản xuất duy trì sức khỏe của đất, các hệ sinh thái và con người. Nó dựa vào các quá trình sinh thái, sự đa dạng sinh học và các sự tuần hoàn phù hợp với các điều kiện địa phương hơn là sử dụng các đầu vào gây hại. Nông nghiệp hữu cơ kết hợp giữa truyền thống, sự đôi mới và khoa học để làm lợi cho môi trường chung và khích lệ các mối quan hệ công bằng và chất lượng cuộc sống tốt cho tat cả những ai liên quan”. Với quy trình sản xuất như vậy, nông nghiệp hữu cơ được xem là thân thiện với môi trường khi nó giúp cải tạo nguồn đất, cau trúc đất và giảm sự xói mòn đất; tăng cường hoạt động sinh học trong hệ sinh thái; giảm ô nhiễm do thuốc trừ sâu; giảm việc rửa trôi chất dinh dưỡng: han chế ô nhiễm nguồn nước ngầm; làm dịu bớt hiệu ứng nhà kính và sự nóng lên của trái đất; thúc đây sự đa dạng sinh học (Kasperczyk and Knickel, 2006; FAO, 2016).2 Sự hình thành và phát triển của thị trường thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam Việc tiêu thụ thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam bat đầu hình thành từ giữa những năm 1990, không phải ở thị trường trong nước mà là thị trường xuất khâu.
Hầu hết các sản phẩm an toàn đều được chiết xuất từ thiên nhiên, với các sản phẩm như gia vi, mật ong, tinh dầu, thảo dược, rau sạch, trà hữu cơ, thịt sạch,. Sau đó, trước “nỗi sợ hãi” của người tiêu dùng về thực phẩm không an toàn tại thị trường Việt Nam, các nhà sản xuất đã phải tim hướng di mới dé biến thực phẩm thành thực phẩm hữu cơ. Số vụ ngộ độc thực phẩm ở nước ta đang ở mức đáng báo động. Theo báo cáo của Bộ Y tế năm 2020, cả nước ghi nhận 90 vụ ngộ độc thực phẩm, làm gần 2.000 trường hợp mắc, 22 trường hợp tử vong.
So với năm 2019, số vụ tăng gần như gấp đôi, số tử vong tăng 13 người. Riêng 3 tháng đầu năm 2021, thống kê của Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế), cả nước ghi nhận 20 vụ ngộ độc thực phẩm, làm 531 người mắc, 3 người tử vong (Diệu Linh, 2021).1: Tình hình ngộ độc thực phẩm 11 tháng 2019 và năm 2020 Báo cáo xu hướng tiêu dùng thực phẩm hữu cơ của AC Nielsen cho thấy có đến 86% người tiêu dùng Việt Nam ưu tiên lựa chọn sản phẩm hữu co cho những bữa ăn hang 7 ngày bởi tính an toàn, giàu dinh dưỡng và hương vi thơm ngon (Thu Trang, 2020). Trong khảo sát nhanh của Vietnam Report, có đến 66% các doanh nghiệp tham gia khảo sát tự tin rằng họ sẽ tăng trưởng trong mức doanh thu và lợi nhuận trong năm 2019, chỉ có 27% cho rằng tăng trưởng dưới 10% và 7% cho rằng kết quả kinh doanh không thay đổi so với năm 2018. Kết quả này được các nhà nghiên cứu của Vietnam Report đưa ra cùng với nhận định, trong bối cảnh thu nhập khả dụng của người dân tăng lên, tỷ lệ dân SỐ trẻ cao và tang lớp trung lưu phát triển, người tiêu ding ngày càng thông minh hon và hướng đến một lối sống xanh và lành mạnh thông qua việc sử dụng các thực phâm có nguồn gốc hữu cơ và nguyên liệu sạch.
Qua khảo sát nhanh hành vi người tiêu dùng tại Hà Nội và TP. HCM cho thấy, ưu tiên hàng đầu của người tiêu dùng khi mua các sản phẩm thực phẩm, đồ uống đó là thành phần dinh dưỡng day đủ (60,3%), tiếp đến là sản phẩm có nguồn gốc hữu cơ (51,5%). Những thách thức của thị trường thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam hiện nay Một số vấn đề về thị trường thực phẩm an toàn ở Việt Nam đặt ra từ rất lâu nhưng vẫn chưa có cách giải quyết tôi ưu: - Khó có thể phân biệt thực phẩm “hữu cơ” Rat nhiều người tiêu dùng lo ngại về chất lượng va mức độ an toàn của thực phẩm đang được bay bán trên thị trường cũng như không tin tưởng vào các chứng nhận thực phẩm hữu cơ hiện nay (Đặng, Phạm, & Hồ, 2019). Điều này liên quan đến thực tế là người tiêu dùng rất khó phân biệt được đâu là thực phẩm hữu cơ thật, đâu là thực phẩm “giả” thực phẩm hữu cơ.
Gần đây nhất, có thể kế đến các trường hợp của một siêu thị ở Hà Nội, một trong các hệ thống siêu thị lớn và đã tồn tại khá lâu ở Việt Nam. Sau sự phản ánh của người tiêu dùng, phóng viên trang báo Vietnamnet đã đến trực tiếp các siêu thị đó dé xác nhận thông tin, kết quả là hầu hết các mặt hàng hoa quả, thực phẩm và một số đồ gia dụng hoàn toàn không có tem mác xuất xứ, một số khay thực phẩm còn không có cả thời hạn sử dụng. Sự nhập nhang của các siêu thị một phan là do người tiêu dùng không thé phân biệt được đâu là thực phâm “hữu co” và đâu là thực phâm “không hữu cơ”. Điều đó làm cho thị § trường thực phẩm hữu cơ ở Việt Nam thực sự gặp nhiều khó khăn khi niềm tin của người tiêu dùng với các sản phẩm này giảm đi rất nhiều (T.
- Những lợi ích của thực phẩm hữu cơ mang lại chưa rõ ràng Bên cạnh rất nhiều các thông tin thực phẩm hữu cơ là tốt cho sức khỏe, nhiều chất dinh dưỡng, an toàn,.