PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài. Puzolan là nguyên liệu cho quá trình sản xuất xi măng hoặc đƣợc sử dụng để thay thế một phần xi măng trong vữa và bê tông, mang lại hiệu quả kinh tế, kĩ thuật và lợi ích về sinh thái và môi trƣờng. Một số sản phẩm phụ của ngành công nghiệp, nông nghiệp có hoạt tính puzolanic có thể sử dụng trong vữa và bê tông nhƣ tro bay, tro trấu, silicafume, với ƣu điểm trữ lƣợng lớn, có sẵn, giá thành rẻ, chúng mang lại tiềm năng sử dụng rất lớn cho ngành công nghiệp sản xuất xi măng và bê tông. Một trong số chúng có hoạt tính puzolanic cao, tuy nhiên một số loại không đƣợc sử dụng, có thể do sự hạn chế về việc lựa chọn và phân loại puzolan sử dụng trong xi măng và bê tông theo các tiêu chuẩn khác nhau của Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung.
Dựa trên độ hoạt tính puzolanic, phụ gia khoáng đƣợc phân thành phụ gia khoáng thông thƣờng nhƣ tro bay, xỉ lò cao và phụ gia khoáng hoạt tính cao nhƣ silica fume, tro trấu. Khả năng hoạt tính puzolanic của phụ gia khoáng có thể đƣợc đánh giá thông qua các phƣơng pháp khác nhau. Chỉ số hoạt tính cƣờng độ thƣờng đƣợc sử dụng để đánh giá độ hoạt tính puzolanic của phụ gia khoáng. Tuy nhiên, sự khác biệt về hàm lƣợng phụ gia khoáng thay thế, lƣợng dùng nƣớc, lƣợng và chủng loại cát, cách điều chỉnh tính công tác của hỗn hợp vữa, chế độ dƣỡng hộ, tuổi thí nghiệm sẽ dẫn đến kết quả chỉ số hoạt tính cƣờng độ của phụ gia khoáng đối với xi măng sẽ khác nhau.
Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 8827:2011 “Phụ gia khoáng hoạt tính cao dùng cho bê tông và vữa“ do Hội Công nghiệp Bê tông Việt Nam đƣợc biên soạn chuyển đổi từ TCXDVN 311:2004. Tiêu chuẩn TCVN 8827:2011 đƣợc biên soạn chủ yếu dựa trên cơ sở tham khảo tiêu chuẩn ASTM C311, TCVN 6016:2011, hệ thống tiêu chuẩn Việt Nam và dựa trên tình hình thực tiễn về sản phẩm và thiết bị lúc đó. Tiêu chuẩn TCVN 8827:2011 sử dụng cát thông thƣờng tuân thủ TCVN 7570:2006 với GVHD: TS Văn Viết Thiên Ân 8 HVTH: Bùi Quang Vinh CB160052 TS Vũ Hoàng Tùng tỷ lệ Cát/CKD = 2,75, dùng nƣớc để điều chỉnh hỗn hợp vữa đạt độ bẹt 110 ±5%, mẫu thí nghiệm đƣợc dƣỡng hộ ở điều kiện tiêu chuẩn và xác định cƣờng độ nén ở tuổi 7 ngày. Yêu cầu chỉ số hoạt tính cƣờng độ đối với xi măng của phụ gia khoáng hoạt tính cao silica fume và tro trấu không nhỏ hơn 85%.
Trong khi đó, tiêu chuẩn ASTM C1240-15 (Standard Specification for Silica Fume Used in Cementitious Mixtures) sử dụng cho silica fume sử dụng cát tiêu chuẩn theo ASTM C778 với tỷ lệ cát/CKD = 2,75, dùng phụ gia siêu dẻo để điều chỉnh tính công tác của hỗn hợp vữa có tỷ lệ N/CKD = 0,484 đạt độ bẹt yêu cầu 100-115%, mẫu thí nghiệm đƣợc dƣỡng hộ trong điều kiện 65°C trong 6 ngày đêm và xác định cƣờng độ nén ở tuổi 7 ngày. Yêu cầu chỉ số hoạt tính cƣờng độ đối với xi măng của phụ gia khoáng hoạt tính cao silica fume không nhỏ hơn 105%. Sự khác biệt này giữa 2 tiêu chuẩn có thể dẫn đến kết quả chỉ số hoạt tính cƣờng độ của phụ gia khoáng khác nhau khi áp dụng các tiêu chuẩn khác nhau, thậm chí khi áp dụng cùng TCVN 8827:2011 nhƣng sử dụng các loại cát thông thƣờng khác nhau tuân thủ TCVN 7570:2006 cũng sẽ cho kết quả khác nhau. Mặt khác, thực tế nghiên cứu và ứng dụng hiện nay cho thấy phụ gia khoáng Meta Kaolin nghiền mịn cũng có thể đƣợc xếp vào nhóm các phụ gia khoáng hoạt tính cao, có tỷ diện tích bề mặt lớn nhƣ silica fume và tro trấu nghiền mịn.
Trên cơ sở những phân tích trên cho thấy hƣớng đề tài:“Nghiên cứu ảnh hưởng của các phương pháp thí nghiệm đến kết quả đánh giá chỉ số hoạt tính cường độ đối với xi măng của phụ gia hoạt tính cao” sẽ góp phần thiết thực đối với việc đánh giá tính chất của phụ gia hoạt tính cao. Mục tiêu của đề tài Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu ảnh hƣởng của các phƣơng pháp thí nghiệm theo các tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ASTM C1240-15 và phƣơng pháp phi tiêu chuẩn đến chỉ số hoạt tính cƣờng độ của ba loại phụ gia hoạt tính: Silica fume (SF), Tro trấu nghiền mịn (RHA), Meta Kaolin (MK). GVHD: TS Văn Viết Thiên Ân 9 HVTH: Bùi Quang Vinh CB160052 TS Vũ Hoàng Tùng 3. Phƣơng pháp nghiên cứu - Sử dụng các phƣơng pháp tiêu chuẩn để xác định chỉ số hoạt tính của phụ gia khoáng hoạt tính: TCVN 8827-2011, ASTM C1240-15 - Sử dụng các phƣơng pháp phi tiêu chuẩn để xác định chỉ số hoạt tính của phụ gia khoáng hoạt tính dựa trên ASTM C1240-15 và các tiêu chuẩn hiện hành của TCVN, đồng thời sử dụng phƣơng pháp DTA-TG để đánh giá khả năng phản ứng puzolanic của các phụ gia khoáng ở các điều kiện dƣỡng hộ khác nhau.
Nội dung nghiên cứu của đề tài - Tổng quan về phụ gia khoáng hoạt tính và phụ gia khoáng hoạt tính cao sử dụng trong xi măng và bê tông - Tổng quan về các phƣơng pháp đánh giá độ hoạt tính của phụ gia khoáng - Vật liệu sử dụng và phƣơng pháp nghiên cứu - Ảnh hƣởng của hàm lƣợng thay thế phụ gia hoạt tính cho xi măng - Ảnh hƣởng của phƣơng pháp điều chỉnh tính công tác của vữa bằng nƣớc hoặc phụ gia giảm nƣớc. - Ảnh hƣởng của phƣơng pháp dƣỡng hộ mẫu - Ảnh hƣởng của ngày tuổi thí nghiệm - Ảnh hƣởng của chế độ tạo hình, kích thƣớc mẫu thử, cát tiêu chuẩn. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Sử dụng các phụ gia khoáng hoạt tính cao nhƣ silica fume, tro trấu, Meta Kaolin và xi măng PC40 để đánh giá ảnh hƣởng của các yếu tố thí nghiệm đến chỉ số hoạt tính cƣờng độ của các phụ gia khoáng này. GVHD: TS Văn Viết Thiên Ân 10 HVTH: Bùi Quang Vinh CB160052 TS Vũ Hoàng Tùng CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHỤ GIA KHOÁNG HOẠT TÍNH CAO TRONG BÊ TÔNG VÀ XI MĂNG 1.
Giới thiệu về phụ gia khoáng hoạt tính Phụ gia khoáng hoạt tính là các phụ gia có nguồn gốc thiên nhiên hay nhân tạo, mà bản thân chúng không có hoặc có rất ít hoạt tính thủy lực, nhƣng khi đƣợc nghiền mịn và ở trong môi trƣờng ẩm thì chúng có khả năng phản ứng hóa học với hydroxyt canxi Ca(OH)2 và với nƣớc ở nhiệt độ thƣờng, tạo thành các sản phẩm có tính chất kết dính [1, 2] Phụ gia khoáng hoạt tính có khả năng làm tăng cƣờng độ và độ bền trong môi trƣờng nƣớc của các sản phẩm chế tạo nên từ chất kết dính xi măng pooclăng có chứa phụ gia khoáng hoạt tính. Phụ gia khoáng hoạt tính gồm có hai loại [2, 3]: - Loại có nguồn gốc tự nhiên: trepan, dolomit, tro núi lửa, đất sét nung tự nhiên,. - Loại có nguồn gốc nhân tạo: tro, xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao hạt hóa, đất sét nung non, silicafume, tro trấu, Meta Kaolin. Phụ gia khoáng hoạt tính nguồn gốc tự nhiên Phụ gia khoáng hoạt tính nguồn gốc tự nhiên bao gồm phụ gia nguồn gốc núi lửa và phụ gia nguồn gốc trầm tích, đất sét nung tự nhiên Phụ gia nguồn gốc núi lửa bao gồm tro núi lửa, túp, trass, đá bọt đƣợc tạo thành do hoạt động của núi lửa.
Tùy thuộc vào điều kiện tạo thành mà các loại phụ gia này có đặc tính khác nhau. Tro núi lửa hình thành bởi sự lắng đọng của đám mây bụi tự miệng núi lửa phun lên. Đây là một vật liệu xốp, chứa trên 60% các dạng hạt bụi, và các hạt lớn hơn cỡ hạt cát và đá dăm. GVHD: TS Văn Viết Thiên Ân 11 HVTH: Bùi Quang Vinh CB160052 TS Vũ Hoàng Tùng Khi tro núi lửa bị lèn chặt trong một thời gian dải bởi các lớp đất đá phía trên sẽ chuyển sang dạng đá xốp thì đƣợc gọi là túp núi lửa.
Khi túp núi lửa bị lèn chặt và biến chất tạo thành trass. Đá bọt núi lửa hình thành khi các mảng mác ma bị bắn lên không trung và đƣợc làm nguội nhanh trong không khí. Thành phần khoáng chủ yếu của các phụ gia nguồn gốc núi lửa là pha thủy tinh alumo silicat, trong đó hàm lƣợng SiO2= 45÷70%; Al2O3= 10÷20%; oxit kiềm thổ từ 2÷6%; oxit kiềm từ 3÷8%. Phụ gia nguồn gốc kết tủa bao gồm điatomit, trepan.
Điatomit đƣợc hình thành từ xác của một loại tảo chứa nhiều oxit silic. Điatomit là một loại vật liệu xốp, nhẹ chứa chủ yếu là SiO2 (đến 94%) và một số hợp chất khác nhƣ cacbonat, khoáng sét. Khi điatomit bị biến chất thì tạo thành trepan, oxit silic trong hai loại phụ gia này đều ở dạng vô định hình. Đất sét nung tự nhiên là loại đất sét hình thành tại các mỏ than có xảy ra các đám cháy ngầm.
Loại đất sét này có chứa Meta Kaolin Al2O3.2SiO2 là thành phần có khả năng kết hợp với Ca(OH)2 ở nhiệt độ thƣờng. Phụ gia khoáng hoạt tính nguồn gốc nhân tạo Phụ gia khoáng hoạt tính nguồn gốc nhân tạo chủ yếu là các phế thải công nghiệp. Trong số đó hai loại phụ gia đƣợc sử dụng rộng rãi nhất, với khối lƣợng lớn là tro, xỉ nhà máy nhiệt điện và xỉ lò cao hạt hóa của các nhà máy gang thép. Tro bay và xỉ của các nhà máy nhiệt điện hình thành khi đốt than bằng vòi đốt ở buồng đốt nồi hơi.
Tro bay là sản phẩm thu đƣợc tại các thiết bị lọc bụi sử dụng để làm sạch khí thải thoát ra từ buồng đốt. Còn xỉ là phần hạt tro than có kích thƣớc lớn bị chảy lỏng và rơi xuống tại buồng đốt. Tro có kích thƣớc hạt rất nhỏ, với độ mịn tƣơng tự nhƣ xi măng. Xỉ thƣờng có kích thƣớc hạt lớn hơn 0,3mm.
Thành phần khoáng chủ yếu của tro xỉ là pha thủy tinh, ngoài ra còn chứa than chƣa cháy và một lƣợng nhỏ pha tinh thể [16, 17]. GVHD: TS Văn Viết Thiên Ân 12 HVTH: Bùi Quang Vinh CB160052 TS Vũ Hoàng Tùng Xỉ lò cao là thải phẩm của quá trình luyện gang trong lò cao. Để luyện gang ngƣời ta sử dụng các loại nguyên liệu là quặng sắt, than cốc và các chất trợ dung nhƣ đá vôi, đá điatomít. Trong quặng sắt ngoài thành phần chính là các dạng oxit sắt còn có các hợp chất chứa các oxit khác nhƣ oxit silic và oxit nhôm.
Khi đƣợc nấu chảy ở nhiệt độ cao, oxit sắt đƣợc hoàn nguyên thành sắt kim loại chứa nhiều cacbon, có tên gọi là gang. Phần chất lỏng nổi trên bề mặt gang đƣợc gọi là xỉ gang.