PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài: Thành phố Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận là đô thị duyên hải cực Nam Trung Bộ, thuộc khu vực Nam Trung Bộ, có trung tâm hành chính thành cách trung tâm hành chính thành phố Hồ Chí Minh 183 km về hướng Đông Bắc. Nền kinh tế thành phố Phan Thiết tăng trưởng với nhịp độ khá (tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm là 14. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp, dịch vụ du lịch, ngư, nông lâm nghiệp, tiềm năng kinh tế từng bước khai thác có hiệu quả, các thành phần kinh tế được khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh; Tuyến đường Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A đi qua thành phố Phan Thiết), có chiều dài 7 Km, là trục đường quan trọng nhất ở cửa ngõ phía Tây của thành phố Phan Thiết tiếp giáp với khu đô thị Ngã Hai và khu công nghiệp Hàm Kiệm ngoài ra đây là tuyến đường quan trọng kết nối thành phố Phan Thiết với các thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa, Nha Trang.
Do đó trục đường này chiếm một tỷ trọng lớn về lưu lượng giao thông vận tải của thành phố Phan Thiết. Trong những năm gần đây, do sự gia tăng mạnh mẽ các khu công nghiệp, cảng, du lịch, vận chuyển hàng hóa. đã kéo theo sự gia tăng các loại phương tiện giao thông đặc biệt là các phương tiện có khả năng vận chuyển khối lượng hàng hoá lớn. Các loại xe tải trọng nặng có nhiều trục, nhiều bánh đã ảnh hưởng lớn và gây hư hỏng kết cấu áo đường trên tuyến đường này, làm phát sinh kinh phí duy tu bảo dưỡng cũng như nâng cấp, cải tạo trong một thời gian dài; Mặt khác, các quy trình, tiêu chuẩn về thiết kế kết cấu áo đường hiện có như 22 TCN 211-06, 22 TCN 274-01.
dù đã được bổ sung và hoàn thiện nhưng chưa đề cập đầy đủ đến sự tác động của các xe tải trọng nặng đến tuổi thọ, thời hạn khai thác của kết cấu áo đường; Thực tế trên cho thấy, đề tài “Đánh giá ảnh hưởng tải trọng vượt tải đến quá trình khai thác của tuyến đường Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A), thành 2 phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận” có tính khoa học và tính thực tiễn cấp thiết, từ các nghiên cứu, đánh giá của đề tài có thể đề xuất các giải pháp giúp nâng cao tuổi thọ, thời hạn khai thác của tuyến đường, giảm chi phí duy tu bảo dưỡng đồng thời thúc đẩy kinh tế của thành phố phát triển. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: Đánh giá tác động của các loại xe vượt tải đối với tuổi thọ, thời hạn khai thác của kết cấu áo đường trên trục đường chính Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A) phía Tây của thành phố Phan Thiết để từ đó có thể đưa ra các biện pháp nhằm hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực này đồng thời nâng cao tuổi thọ, thời hạn khai thác của kết cấu áo đường. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu là các loại xe vượt tải có nhiều trục, nhiều bánh trên trục đường Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A), thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Phạm vi nghiên cứu giới hạn trong trên tuyến đường Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A) với chiều dài là 7 km.
Phƣơng pháp nghiên cứu: Phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp lý thuyết, kết hợp với số liệu thống kê thực tế. Dựa vào số liệu thu thập được về lưu lượng xe, thành phần dòng xe, các thông số kỹ thuật của các loại xe vượt tải mà đánh giá tác động đối với tuổi thọ kết cấu áo đường mềm của các loại xe. Nội dung nghiên cứu: Tổng quan về tuyến đường Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A), thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Đánh giá ảnh hưởng của xe vượt tải đối với tuổi thọ, thời hạn khai thác của kết cấu áo đường tuyến Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A), thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
3 Đề xuất giải pháp hạn chế ảnh hưởng của xe vượt tải đối với tuổi thọ, thời hạn khai thác kết cấu áo đường tuyến Trường Chinh (đoạn Quốc lộ 1A), thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Kết luận, kiến nghị và dự kiến hƣớng nghiên cứu tiếp theo. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. - Đề tài đưa ra cách thức đánh giá được ảnh hưởng của xe đến tuổi thọ kết cấu áo đường mềm nói chung.
- Đề tài đề xuất các biện pháp để nâng cao tuổi thọ kết cấu áo đường mềm như: các giải pháp về khai thác để giúp cho các cơ quan chức năng quản lý xe quá tải. - Từ những nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao tuổi thọ kết cấu áo đường mềm, nâng cao thời gian và chất lượng khai thác cũng như giảm thiểu chi phí xây dựng, duy tu bảo dưỡng công trình. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TUYẾN ĐƢỜNG TRƢỜNG CHINH (ĐOẠN QUỐC LỘ 1A), THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BÌNH THUẬN 1.
Vị trí địa lý: Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận Bình Thuận là tỉnh ven biển thuộc miền Nam Trung Bộ, có mối liên hệ và nằm trong khu vực ảnh hưởng tác động mạnh mẽ của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN). Phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, Đông - Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và Đông Nam giáp biển Đông với bờ biển dài 192km và vùng lãnh hải rộng: 5 52. Ngoài khơi có đảo Phú Quý cách thành phố Phan Thiết khoảng 120 km.
Tổng diện tích tự nhiên: 781. Bình Thuận có vị trí địa lí từ: 10033'42" đến 11033'18" vĩ độ Bắc và từ 107023'41" đến 108052 '42" kinh độ Đông[9]. Tỉnh nằm giữa hai thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và Nha Trang, giao thông đối ngoại có Quốc lộ 1A với chiều dài 181,434 km và 180 km đường sắt Thống Nhất chạy qua nối Bình Thuận với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước; Quốc lộ 28 nối liền Phan Thiết với các tỉnh Nam Tây Nguyên; Quốc lộ 55 nối liền với trung tâm dịch vụ dầu khí - du lịch Vũng Tàu và trung tâm du lịch Đà Lạt, Lâm Đồng[9]. Với vị trí địa lý như trên tạo cho Bình Thuận khả năng giao lưu kinh tế thuận lợi và chặt chẽ với các tỉnh Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng Duyên Hải miền trung.
Sức hút của các thành phố và các trung tâm phát triển như TP.HCM, Vũng Tàu, Nha Trang tạo điều kiện cho tỉnh đẩy mạnh sản xuất hàng hoá, tiếp thu nhanh khoa học kỹ thuật. Đồng thời cũng là một thách thức lớn đặt ra cho Bình Thuận phải phát triển nhanh nền kinh tế, nhất là những ngành mũi nhọn theo thế mạnh đặc thù để mở rộng liên kết, không bị tụt hậu so với khu vực[9]. Bản đồ hành chính tỉnh Bình Thuận 6 1. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận giai đoạn 2016 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030: Triển khai thực hiện Nghị Quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Bình Thuận lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015-2020.
Qua đó phấn đấu tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) tăng bình quân 7- 7,5%/năm; trong đó, GRDP nhóm ngành: Công nghiệp - xây dựng tăng 9,0 - 9,5%; Dịch vụ tăng 8,2 - 8,7%; Nông - lâm - thủy sản tăng 3,3% - 3,8%. Trong đó một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phấn đấu đến năm 2020, du lịch Bình Thuận trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, có hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại; sản phẩm du lịch có chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Bình Thuận trở thành trung tâm du lịch - thể thao biển mang tầm quốc gia, Mũi Né là khu du lịch quốc gia. Từng bước xây dựng Phú Quý là điểm du lịch quốc gia; xây dựng thành phố Phan Thiết trở thành đô thị du lịch[9].
Căn cứ Quyết định số 2532/QĐ-TTg ngày 28/12/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030. Theo đó xây dựng và phát triển Bình Thuận căn bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, có cơ cấu kinh tế phù hợp đến năm 2020: Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp với 3 trung tâm mang tầm quốc gia: Trung tâm năng lượng, trung tâm chế biến quặng sa khoáng titan, trung tâm du lịch – thể thao biển; có đủ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, đồng bộ, liên thông với cả nước; quan hệ sản xuất tiến bộ; an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người không thấp hơn bình quân chung của cả nước, môi trường được bảo vệ tốt; quốc phòng – an ninh không ngừng được củng cố, trật tự xã hội được giữ vững. Tầm nhìn đến năm 2030 nền kinh tế của tỉnh hội tụ đủ điều kiện đạt cơ cấu kinh tế Công nghiệp – Dịch vụ - Nông nghiệp[9]. 7 - Về kinh tế[9]: + Phấn đấu giai đoạn 2016-2020 có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt bình quân 7,0 - 7,5%/năm, trong đó: Nông-lâm-thủy sản tăng 3,3 – 3,8%, Công nghiệp-xây dựng tăng 9,0 – 9,5%, Dịch vụ tăng 8,2 - 8,7%.
Tầm nhìn giai đoạn 2021-2030 có tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) đạt bình quân 7,2 - 7,5%/năm, trong đó: Nông-lâm-thủy sản tăng 2,8 - 3,0%, Công nghiệp-xây dựng tăng 10,0 - 11,5%, Dịch vụ tăng 6,2 - 6,4%. + Phấn đấu GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 3.200 USD, chiếm 98 – 100% cả nước; Tầm nhìn đến năm 2030 đạt 8.500USD, vượt 13 – 14% cả nước. + Hình thành và phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý trên cơ sở cải thiện, nâng cấp trình độ phát triển các ngành kinh tế nói riêng và nền kinh tế nói chung thông qua việc các ngành sử dụng công nghệ cao, tạo ra giá trị gia tăng cao. Phấn đấu đến năm 2020, cơ cấu giá trị tăng thêm (VA) chuyển dịch theo hướng: tỷ trọng nông-lâm-thủy sản giảm còn 21,4 – 21,8%, công nghiệp-xây dựng tăng mạnh chiếm 31,4 – 31,8%, dịch vụ tiếp tục tăng nhẹ chiếm 46,6 – 47,0%.
Tầm nhìn đến 2030 có cơ cấu giá trị tăng thêm VA đạt: nông-lâm-thủy sản giảm còn 12,0 – 12,5%, công nghiệp-xây dựng tăng mạnh chiếm 45,0 – 46,0%, dịch vụ giảm còn 42,0 – 43,0%.