mở đầu bằng việc chế tạo ra máy tính điện tử vào giữa thế kỉ XX. Cuộc cách mạng công nghệ này đã đưa công nghệ lên một bước phát triển mới, cao hơn, cơ bản hơn về chất. Năng lượng được khai thác chủ yếu của hệ thống công nghệ này là trí năng – sản phẩm đặc thù của tư duy con người. Nó góp phần nâng cao trí tuệ, bổ sung thêm những phương diện hoàn toàn mới cho công cuộc phát triển con người, đem lại những thay đổi lớn lao về phương thức làm việc, thị trường lao động và hành vi xã hội, góp phần làm tăng năng suất, đồng thời có tiềm năng to lớn để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống.
Đặc biệt, trong sản xuất nông nghiệp, cuộc cách mạng công nghệ sinh học được xem là yếu tố đặc biệt quan trọng, không chỉ mang lại năng suất cao, tăng cường giá trị gia tăng nó tạo ra các sản phẩm mới như giống cây trồng vật nuôi mới, các phương pháp như chuyển gen mang tính trạng tốt vào giống cây trồng, vật nuôi nhằm tạo ra những giống có năng suất cao, thích nghi với điều kiện thời tiết khắc nghiệt, có khả năng chống chịu dịch bệnh hoặc tạo ra các chế phẩm sinh học bảo vệ cây trồng, vật nuôi, tạo ra các quy trình sản xuất mới vừa bảo vệ được môi trường vừa nâng cao năng suất sản xuất. Năng suất lao động tăng vượt bậc Cuộc cách mạng KH - CN đã tạo nên sự tăng trưởng vượt bậc của năng suất lao động nhờ sự thay đổi cơ cấu của lực lượng sản xuất, của sự phân công lao động xã hội trong phạm vi quốc gia, liên quốc gia, khu vực và quốc tế. Nhờ tri thức mới về tổ chức quản lí và đặc biệt là nhờ những công nghệ mới, năng suất lao động không ngừng tăng, hàm lượng lao động cơ bắp trong sản phẩm ngày càng giảm, đồng thời cơ cấu kinh tế dịch chuyển theo hướng tăng nhanh tỉ lệ các ngành có giá trị gia tăng cao. Do sự đổi mới nhanh công nghệ, nhiều doanh nghiệp và nhiều việc làm cũ bị mất đi, nhưng bên cạnh đó là ngày càng có nhiều ngành mới, nhiều doanh 12 nghiệp mới, việc làm mới ra đời, số chỗ làm việc mới nhiều hơn số chỗ làm việc mới đã mất đi.
Theo phân tích của cơ quan thống kê Phần Lan, năng suất lao động (tính theo giá trị tạo ra trong một giờ lao động của công nhân) của các nước OECD trong hai thập kỉ cuối thế kỉ XX đã tăng gấp đôi, riêng Phần Lan tăng gấp ba. Đi đôi với sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế là sự chuyển dịch về cơ cấu lao động. Số lao động trực tiếp làm ra sản phẩm ít đi, số lao động xử lí thông tin, làm trong các ngành dịch vụ, di chuyển sản phẩm, nghiên cứu khoa học… tăng lên, lực lượng lao động tri thức tăng nhanh và trở thành lực lượng lao động chủ yếu. Cách thức mới để làm mọi việc biến KH - CN trở nên có giá trị hơn và ngược lại những công nghệ mới và tốt hơn lại tạo điều kiện để có những cách thức mới làm mọi việc.
Đó chính là lí do mà việc tận dụng những tiến bộ khoa học kĩ thuật sẽ ngày càng làm cho năng suất lao động tăng lên không ngừng. Vai trò của con người (trong sản xuất kinh doanh) thay đổi về chất Cuộc cách mạng KH - CN hiện đại đã làm thay đổi về chất quá trình sản xuất. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là, con người ngày càng có vai trò quan trọng và quyết định đối với sản xuất. Con người được tách dần ra khỏi quá trình sản xuất trực tiếp, trí năng – năng lực và trí tuệ của con người – đã trở thành nguồn năng lượng mới của công nghệ và sản xuất.
Chính trong quá trình biến đổi đó đã hình thành nên những con người lao động kiểu mới, có tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và năng lực toàn diện. Về lực lượng lao động trong lực lượng sản xuất đã thay đổi có tính chất bước ngoặt. Ngày nay dưới tác động của khoa học kĩ thuật, quan niệm về lực lượng lao động đã có phạm vi rộng hơn. Nó không chỉ có lao động cơ bắp mà còn thêm cả lao động kĩ thuật, lao động quản lí, lao động dịch vụ nhất là dịch vụ khoa học – công nghệ - thông tin.
Sự thay đổi cơ cấu lao động theo tính quy luật nói trên cho thấy vai trò của lao động trí tuệ trong việc rút ngắn khoảng cách lạc hậu giữa các quốc gia kém phát triển với các quốc gia phát triển, sự lạc hậu về tri thức của con người diễn ra ngày càng nhanh, thời gian cho một chu trình tìm ra – sử dụng – loại bỏ hay nói cách khác là vòng đời của một sản phẩm khoa học ngày càng bị rút ngắn. 13 Lao động của con người bao gồm hai phần: lao động cơ bắp và lao động trí tuệ. Cùng với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là sự phát triển của khoa học kĩ thuật, năng lực trí tuệ của người lao động không ngừng được nâng cao, phần giá trị do lao động trí tuệ của họ tạo ra trong quá trình sản xuất và được kết tinh trong sản phẩm ngày càng tăng. Từ chỗ chiếm một tỉ trọng rất không đáng kể trước đó, ngày nay ở các nước phát triển, đối với một số loại sản phẩm có hàm lượng trí tuệ cao, hàm lượng giá trị do trí tuệ tạo ra và được kết tinh trong sản phẩm có thể đạt tới 80- 90% tổng giá trị sản phẩm.
Những thay đổi ấy làm cho giá trị thặng dư được tạo ra không chỉ còn do lao động sống của người công nhân trực tiếp sản xuất ra, mà còn do lao động vật hóa, lao động quản lí… Lao động quản lí ở đây bao gồm cả lao động quản lí của các chuyên gia quản lí và lao động quản lí của những người sở hữu tư liệu sản xuất nếu họ tham gia quản lí doanh nghiệp. Quản lí lại là loại hình lao động phức tạp, nó là “bội số của lao động giản đơn” như C. Quan niệm, đặc trưng và vai trò của nền nông nghiệp hàng hóa 1. Quan niệm, đặc trưng của nền nông nghiệp hàng hóa 1.
Quan niệm nền nông nghiệp hàng hóa Trong quá trình phát triển KT – XH của mỗi nước, tùy trình độ và khả năng tổ chức hoạt động mà nền nông nghiệp tồn tại hai trạng thái, đó là nền nông nghiệp tự cung tự cấp và nền NNHH. Trong hoạt động của kinh tế nông nghiệp, sản phẩm được sản xuất ra không phải để thỏa mãn nhu cầu cá nhân của người sản xuất mà là để trao đổi trên thị trường thì được gọi là sản phẩm hàng hóa. Sản phẩm hàng hóa là tế bào kinh tế của nền NNHH. Từ đó, có thể hiểu rằng: “NNHH là một bộ phận của nền kinh tế hàng hóa, là kiểu tổ chức KT – XH sản xuất ra nông sản phẩm không phải để tự mình tiêu dùng mà để trao đổi, mua bán trên thị trường, nhằm vừa thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội, vừa có lợi nhuận cho người sản xuất ra nó để tái sản xuất mở rộng và hiện đại hóa nền nông nghiệp”.
[7, 12] Một nền NNHH được coi là phát triển khi có sự tăng thêm về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu KT – XH, trên cơ sở hướng ra thị trường, đáp ứng nhu cầu của thị trường phù hợp với xu thế hội nhập như hiện nay. Đặc trưng nền nông nghiệp hàng hóa Nền NNHH có những đặc trưng tổng quát sau: - Thứ nhất, đẩy mạnh phân công lao động và đa dạng hóa sản phẩm Trong nông nghiệp, sản phẩm NNHH rất đa dạng, bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Mỗi ngành lại chia thành những phân ngành nhỏ hơn, do đó khi phân công lao động xã hội càng sâu sắc thì sự phân ngành càng chi tiết, đa dạng hơn. Trong sản xuất nông sản hàng hóa, không chỉ mỗi nhóm ngành, vùng nông nghiệp được chia thành những ngành, vùng nhỏ hơn, mà quá trình phân công lao động ngoài việc diễn ra trong nội bộ ngành, vùng nông nghiệp, còn có sự liên quan, liên kết chặt chẽ với công nghiệp và dịch vụ.
Ngày nay, xu hướng chung của phân công lao động là tỷ trọng của lao động nông nghiệp ngày càng giảm nhưng giá trị sản lượng nông nghiệp vẫn không ngừng tăng lên, còn tỷ trọng lao động trong công nghiệp và dịch vụ thì ngày càng tăng. - Thứ hai, NNHH là nông nghiệp phát triển đa dạng, tổng hợp nhưng trên cơ sở tính đa dạng sinh học của vùng, miền. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, đất đai là những tư liệu sản xuất chủ yếu, nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động, cố định về không gian, có giới hạn về diện tích, không thể di chuyển được. Các yếu tố khác của ngoại cảnh như khí hậu, nguồn nước, thổ nhưỡng cũng rất khác nhau.
Đối tượng của sản xuất nông sản hàng hóa bao gồm nhiều loại cây trồng và vật nuôi có yêu cầu khác nhau về môi trường cũng như điều kiện ngoại cảnh để sinh ra và lớn lên. Mặt khác, do các năng lực tự nhiên của sản xuất lại phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền. Do vậy, để đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và toàn diện trong quá trình phát triển NNHH, không chỉ cần trang bị và am hiểu những kiến thức để hoạt động sản xuất phù hợp với các quy luật sinh học của mỗi đối tượng sản xuất, kịp thời đối phó với những diễn biến thất thường của điều kiện ngoại cảnh mà còn phải biết sử dụng hợp lý các nguồn lực tự nhiên vốn có giới hạn. Đồng thời phải biết tận dụng những lợi thế của tính đa dạng sinh học để phát triển có hiệu quả.
15 - Thứ ba, nền NNHH có sự khác biệt tương đối so với sản xuất hàng hóa công nghiệp. Phân công lao động trong nông nghiệp khác với phân công lao động trong công nghiệp. Trong công nghiệp, phân công lao động có trình độ chuyên môn hóa cao hơn, còn trong nông nghiệp bao giờ cũng kết hợp chuyên môn hóa với phát triển tổng hợp. Chẳng hạn trong một vùng, bên cạnh ngành chuyên môn hóa sản xuất ra mặt hàng chủ lực cung cấp thị trường, còn phát triển những ngành khác thích ứng với ngành sản xuất đó, hoặc tận dụng có hiệu quả điều kiện sản xuất như đất đai, lao động.
Trong quá trình sản xuất, nông nghiệp bị phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên nên sản xuất nông sản hàng hóa có tính thời vụ nhất định.