Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên[15], [20] 1. Vị trí địa lý Thành phố Tam Kỳ là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam, là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung. Phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.
Thành phố Tam Kỳ, về Phía Bắc, cách thành phố Đà Nẵng 70 km, về phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà khoảng 30 km và cách khu công nghiệp và nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40 km, gắn với QL1A, QL40 (đường Nam Quảng Nam) và kết nối với hệ thống giao thông quốc gia gồm đường sắt, đường bộ, hàng không, đặc biệt Quốc lộ 14D, 14B, 14E nối các huyện miền biển, trung du, đồng bằng và duyên hải, gắn kết với các tỉnh Tây Nguyên, Lào và khu vực. Năm 1471, Thành phố Tam Kỳ là huyện Hà Đông, phủ Thăng Hoa của đạo Thừa Tuyên tỉnh Quảng Nam, được hình thành dưới thời vua Lê Thánh Tông. Đến năm 1906, huyện Hà Đông được nâng lên thành phủ Hà Đông và sau đó đổi thành phố Tam Kỳ. Từ một phủ lỵ năm 1906 đến năm 1997 trở thành Thị xã tỉnh lỵ và nay là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam.
Tóm lại, thành phố Tam Kỳ có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Tỉnh. Với tiềm năng địa thế đặc thù, gần các vùng kinh tế trọng điểm và sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà, cảng Tam Hiệp, thành phố Tam Kỳ đã hội tụ được các điều kiện thuận lợi để phát triển thành một đô thị loại 2 với vai trò là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Nam và tương lai sẽ là trọng điểm phát triển của cả khu vực. Đặc điểm địa hình Thành phố Tam Kỳ có dạng địa hình vùng đồng bằng duyên hải Nam Trung bộ, là vùng chuyển tiếp từ dạng đồi núi cao phía Tây, thấp dần xuống vùng đồng bằng, thềm bồi của các con sông trước khi đổ ra biển Đông. Địa hình có dạng đồi thấp, và đồng bằng được hình thành do bồi tích sông, biển và quá trình rửa trôi.
Hướng dốc chung của địa hình từ Tây sang Đông, địa hình toàn khu vực bị chia cắt nhiều bởi các sông, suối thuộc lưu vực của sông Trường Giang. Chế độ khí hậu thời tiết 1. Nhiệt độ và độ ẩm Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 26,40C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm.
Mùa đông nhiệt độ vùng đồng bằng có thể xuống dưới 200C. Độ ẩm trung bình không khí đạt 87%. Lượng mưa Thành phố Tam Kỳ nằm trong phân vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa. Trong năm có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô.
- Mùa mưa chủ yế u tâ ̣p trung nhiề u vào các tháng 9 đế n tháng 12, lươ ̣ng mưa chiế m 70-75% cả năm. Lươ ̣ng mưa tháng trong thời kỳ này đa ̣t 400mm, tháng 10 lớn nhấ t: 434mm. - Mùa khô từ tháng 1 đế n tháng 8, lươ ̣ng mưa chı̉ chiế m 25-30% cả năm. Lươ ̣ng mưa tháng trong thời kỳ này chı̉ đa ̣t 25mm, tháng 3 có lươ ̣ng mưa nhỏ nhấ t trong năm: 12mm.
Hệ thống sông ngoài 1. Sông Tam Kỳ Là hợp lưu của 10 con sông suối nhỏ, bắt nguồn từ các dãy núi phía Tây, chảy theo hướng Tây - Đông xuống dòng chính tại Xuân Bình - Phú Thọ, xã Tam Trà, huyện Núi Thành, rồi theo hướng Tây Bắc - Đông Nam chảy ra cửa An Hòa (Núi Thành). Diện tích lưu vực khoảng 800km2. Do nằm trong vùng nhiều mưa, 5 rừng đầu nguồn ít bị tàn phá nên dòng chảy tương đối điều hòa theo mùa.
Lưu lượng lớn nhất của sông Tam kỳ là 20,7m3/s. Sông Bàn Thạch Là sông lớn nhất chảy qua thành phố Tam Kỳ, chảy từ phía Tây sang phía Đông của thành phố. Sông Bàn Thạch hợp lưu với sông Tam Kỳ tại khu vực phía Đông Thành phố, tạo thành sông Trường Giang dài 12km trước khi đổ ra biển. Lưu lượng lớn nhất của sông Bàn Thạch là 96,6m3/s.
Ngoài hai hệ thống sông trên, Tam Kỳ còn có sông Trường Giang là sông nước mặn và nước lợ chạy sát biển nối cửa An Hòa với cửa Đại - Hội An, khi lũ lớn chỉ ảnh hưởng tràn bờ vùng sát ven sông có cao độ nền <2,5m. Sông Trường Giang Không có thượng lưu và hạ lưu, chạy ngang, song song với bờ biển Quảng Nam. Sông dài trên bảy chục cây số, nối hạ lưu hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn ở phía Bắc với hạ lưu hệ thống sông Tam Kỳ - An Tân ở phía Nam. Nguồn nước của Trường Giang được thu nhận từ hai hệ thống sông này.
Nguồn nước nữa, đó là thủy triều lên xuống đổ vào và rút ra ở các cửa sông. Ở hai đầu Bắc và Nam, sông đều thông với biển. Phía Bắc, Trường Giang gặp Thu Bồn rồi cùng ra biển qua Cửa Đại. Phía Nam, Trường Giang hòa với sông Tam Kỳ, An Tân rồi đổ ra biển thông qua Cửa Lở và cửa An Hòa.
Hồ chứa nước Phú Ninh nằm cách Tam Kỳ khoảng 7km điều hòa dòng chảy sông Tam Kỳ. Hồ này là nguồn cung cấp nước cho khu vực đô thị Tam Kỳ và cho các hoạt động thuỷ lợi. Dung tích hồ W=362x106m3 6 Hình 1: Bản đồ thành phố Tam Kỳ 1. Sơ lược về cây dưa leo (Cucucmis sativus L.
Nguồn gốc và phân loại 1. Nguồn gốc Dưa leo thuộc họ bầu bí có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới ẩm thuộc nam Châu Á, là loại cây ưa nhiệt. Những năm cuối thế kỷ 20 dưa leo là cây rau chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất rau trên thế giới. Những nước đẫn đầu diện tích gieo trồng và năng suất: Trung Quốc, Liên Xô, Nhật Bản, Mỹ, Hà Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Tây Ban Nha.
Theo FAO (1993) diện tích dưa leo trên thế giới là 1.000 ha, năng suất 15,56 tấn/ha và sản lượng đạt 1. Ở nước ta những năm gần đây dưa leo đã trở thành cây rau quan trọng, có ý nghĩa lớn về hiệu quả kinh tế và giải quyết vấn đề và thực phẩm. Phân loại Theo phân loại thực vật, cây dưa leo thuộc: Giới (regnum): Plantae Bộ (ordo): Cucurbitales Họ (familia): Cucurbitaceae Chi (genus): Cucumis Loài (species): Cucumis sativus 1. Đặc điểm sinh học của cây dưa leo[3], [24] Hình 2: Cây dưa leo - Rễ: Bộ rễ dưa leo phát triển rất yếu, rễ chỉ phân bố ở tầng đất mặt 30 - 40 cm -Thân: Thân của dưa leo là thảo hằng niên, thân dài, có nhiều tua cuốn để bám khi bò.
Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0. Thân trên lá mầm và lóng thân trong điều kiện ẩm độ cao có thể thành lập nhiều rễ bất định. Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít nhiều tùy giống. Thân chính thường phân nhánh; cũng có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không thành lập nhánh ngang.
Sự phân nhánh của dưa còn chịu ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm. 8 - Lá: Lá đơn, to mọc cách trên thân, dạng lá hơi tam giác với cuốn lá rất dài 5 - 15 cm, rìa lá nguyên hay có răng cưa. Lá trên cùng cây cũng có kích thước và hình dáng thay đổi. - Hoa: Hoa đơn tính cùng cây hay khác cây.
Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ 5 - 7 hoa, dưa leo cũng có hoa lưỡng tính. có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây. Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở. Các giống dưa leo trồng ở vùng ĐBSCL thường ra hoa sớm, bắt đầu ở nách lá thứ 4 - 5 trên thân chính, sau đó hoa nở liên tục trên thân chính và nhánh.
Sự biến dị về tính trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích nghi mạnh của cây trong điều kiện môi trường. Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt độ cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây cho nhiều hoa đực. Ngoài ra, tỉa nhánh, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi giới tính của cây. Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được nghiên cứu và tạo lập để sữ dụng trong chọn tạo giống lai.
- Trái: Trái thì lúc còn non có gai xù xì, khi trái lớn gai từ từ mất đi. Trái từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, chấm), khi chín trái chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh. Trái tăng trưởng rất nhanh tùy theo giống, có thể thu trái từ 8 - 10 ngày sau khi hoa nở. Phẩm chất trái không chỉ tùy thuộc vào thành phần các chất dinh dưỡng trong trái mà còn tùy thuộc vào độ chặc của thịt trái, độ lớn của ruột trái và hương vị trái.
Trái chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200 - 500 hạt/trái. Giá trị của cây dưa leo (Cucucmis sativus L. Giá trị dinh dưỡng Các loại rau nói chung và dưa leo nói riêng là loại thực phẩm cần thiết cho đời sống hằng ngày và không thể thay thế. Rau được coi là nhân tố quan trọng đối với sức khỏe và đóng vai trò chống chịu với bệnh tật.
Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà dinh dưỡng học trong và ngoài nước thì khẩu phần ăn của 9 người Việt Nam cần khoảng 2300 - 2500 Calo năng lượng hằng ngày để sống và hoạt động. Ngoài nguồn năng lượng cung cấp từ lương thực, rau góp phần đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho cơ thể con người. Rau không chỉ đảm bảo cung cấp chỉ số Calo trong khẩu phần ăn mà còn cung cấp cho cơ thể con người các loại vitamin và các loại đa, vi lượng không thể thiếu được cho sự sống của mỗi cơ thể. Hàm lượng vitamin trong rau khá cao lại dễ kiếm.
Dưa leo là một thức ăn rất thông dụng và là một vị thuốc có giá trị. Thành phần dinh dưỡng gồm Protein (đạm) 0,8g; gluxit (đường) 3,0g; xenlulose (xơ) 0,7g; năng lượng 15 kcalo; canxi 703mg; Phospho 27mg; Sắt 1mg; Natri 13mg; Kali 169mg, Caroten 90mcg, Vitamin B1 0,03mg; Vitamin C 5,0 mg.