Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Khắc Sơn tập trung vào đối tượng cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), một loài thực vật thân gỗ lớn thuộc họ Bụt mọc (Taxodiaceae). Đây là một trong 33 loài cây lá kim bản địa quý hiếm của Việt Nam, phân bố tự nhiên rất hạn chế trên các đỉnh núi đá có độ cao từ 500 m đến 1.500 m so với mực nước biển tại các tỉnh phía Bắc như Hà Giang, Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa. Loài cây này mang giá trị cao về mặt sinh thái, khoa học, thẩm mỹ và thương mại nhờ thớ gỗ mịn, bền, ít mối mọt và chứa hàm lượng tinh dầu giá trị phục vụ y học và thủ công mỹ nghệ.
Theo khảo sát thực tế được tác giả dẫn giải, quần thể Sa mộc dầu trong tự nhiên đang suy giảm nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng khai thác trái phép vì mục đích thương mại, sinh cảnh bị phân mảnh và đặc tính tái sinh tự nhiên kém. Điển hình tại tỉnh Hà Giang, kết quả điều tra năm 2012 của Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên phối hợp với Chi cục Kiểm lâm địa phương ghi nhận toàn tỉnh chỉ còn khoảng 80 đến 90 cá thể trưởng thành. Sa mộc dầu đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 ở cấp phân hạng VU A1adC1 và thuộc Nhóm IIA trong danh mục thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ.
Dù hạt giống Sa mộc dầu có thể nảy mầm nhưng sức sống của cây mầm và cây con ở giai đoạn đầu rất yếu, dẫn đến tỷ lệ sống sót thấp nếu không có biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp. Trong công tác nhân giống từ hạt tại vườn ươm, hỗn hợp ruột bầu đóng vai trò là giá thể cung cấp chất dinh dưỡng và môi trường vật lý trực tiếp cho bộ rễ. Tuy nhiên, tại khu vực Thái Nguyên, các nghiên cứu xác định tỷ lệ phối trộn ruột bầu tối ưu cho loài cây này vẫn chưa được tiến hành đầy đủ.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm:
- Đánh giá ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầu khác nhau đến sinh trưởng chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) của cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm.
- Đánh giá ảnh hưởng của các công thức hỗn hợp ruột bầu khác nhau đến sinh trưởng đường kính cổ rễ ($D_{00}$) của cây Sa mộc dầu giai đoạn vườn ươm.
- Xác định tỷ lệ sống và tỷ lệ cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn theo từng công thức, từ đó tìm ra thành phần ruột bầu thích hợp nhất phục vụ công tác gieo ươm cây giống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây con Sa mộc dầu gieo ươm từ hạt trong giai đoạn vườn ươm.
- Phạm vi nội dung: Khảo nghiệm 6 công thức hỗn hợp ruột bầu, bao gồm 1 công thức đối chứng (100% đất tầng A) và 5 công thức phối trộn phân chuồng hoai mục (cố định tỷ lệ 10%) kết hợp với các tỷ lệ phân supe lân khác nhau (lần lượt là 0%, 1%, 2%, 3%, 4%).
- Phạm vi không gian: Vườn ươm Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (xã Quyết Thắng, thành phố Thái Nguyên).
- Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện trong 180 ngày, từ ngày 20/11/2014 đến ngày 18/5/2015.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về mặt cơ sở khoa học, khóa luận dựa trên lý thuyết dinh dưỡng khoáng thực vật và các nguyên lý kỹ thuật vườn ươm lâm nghiệp. Theo các tài liệu nghiên cứu lâm sinh của Nguyễn Văn Sở (2003, 2004) và Nguyễn Xuân Quát (1985), ruột bầu là môi trường dinh dưỡng nhân tạo quyết định trực tiếp tới tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của cây con. Một hỗn hợp ruột bầu đạt chuẩn phải cân đối giữa lý tính (độ tơi xốp, khả năng giữ ẩm, khả năng thoát khí) và hóa tính (hàm lượng đạm, lân, kali, độ pH). Trong đó, phân chuồng hoai mục cải thiện độ xốp, bổ sung mùn và vi sinh vật có ích; phân lân kích thích sự phân chia tế bào mô phân sinh, hỗ trợ phát triển hệ rễ và tăng cường sức chịu đựng của cây non trước điều kiện bất lợi. Tác giả cũng tổng thuật kinh nghiệm phối trộn ruột bầu từ các nghiên cứu đối với nhiều loài cây rừng khác như Thông nhựa, Cẩm lai, Bần chua, Dầu song nàng, Chiêu liêu nước, Huỳnh liên, Keo Úc và Sưa.
Về phương pháp bố trí thí nghiệm, nghiên cứu áp dụng phương pháp khối ngẫu nhiên trên 1 luống đất cố định rộng 1,2 m với tổng quy mô 540 bầu (chia thành các hàng 10 cây). Thí nghiệm gồm 6 công thức (CTTN), mỗi công thức lặp lại 3 lần (tổng cộng 18 ô thí nghiệm), mỗi ô theo dõi 30 cây (90 cây cho mỗi công thức). Khoảng cách giữa các ô là 10 cm. Thành phần phối trộn tính theo tỷ lệ trọng lượng gồm:
- Công thức 1 (CT1): 90% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục.
- Công thức 2 (CT2): 89% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục + 1% phân supe lân.
- Công thức 3 (CT3): 88% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục + 2% phân supe lân.
- Công thức 4 (CT4): 87% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục + 3% phân supe lân.
- Công thức 5 (CT5): 86% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục + 4% phân supe lân.
- Công thức 6 (CT6 - đối chứng): 100% đất tầng A không bón phân.
Quy trình kỹ thuật thực hiện gồm: xử lý hạt bằng nước ấm 40°C trong 4–6 giờ, ủ trong túi vải 4–5 ngày cho nứt nanh; đóng đất tầng A (đã sàng loại bỏ rễ, sỏi đá) vào túi bầu polyetylen có đục lỗ đáy và thành bên; tra 1–2 hạt ở độ sâu 1,5 cm; che lưới đen, tưới nước giữ ẩm vào chiều mát, xới váng định kỳ 10–15 ngày/lần và dỡ dần giàn che khi cây đạt chiều cao 5–10 cm.
Nguồn dữ liệu và phương pháp xử lý: Số liệu thu thập từ các lần đo đếm trực tiếp tại vườn ươm. Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) được đo định kỳ 1 tháng/lần bằng thước đo chuyên dụng (độ chính xác ±0,1 cm); đường kính cổ rễ ($D_{00}$) được đo vào đợt theo dõi cuối cùng (tháng thứ 6) bằng thước kẹp palmer. Dữ liệu được tính toán giá trị trung bình trên Microsoft Excel và kiểm định thống kê bằng phương pháp phân tích phương sai một nhân tố (ANOVA Single Factor) ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$. Sự sai khác giữa các cặp giá trị trung bình được so sánh bằng chỉ số sai dị bảo đảm nhỏ nhất (LSD - Least Significant Difference).
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tình trạng suy giảm nguồn gen Sa mộc dầu bản địa và sự thiếu hụt quy trình gieo ươm tại địa phương. Tác giả nêu rõ mục tiêu đánh giá sinh trưởng chiều cao và đường kính cổ rễ cây con dưới tác động của phân chuồng và phân lân. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để hoàn thiện quy trình nhân giống loài cây nguy cấp, đồng thời rèn luyện kỹ năng nghiên cứu độc lập cho sinh viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng.
Phần 2: Tổng quan nghiên cứu
Chương này tổng thuật toàn diện các cơ sở lý luận và thực tiễn về dinh dưỡng khoáng học của cây thân gỗ, vai trò lý hóa tính của đất bầu (thành phần cơ giới cát pha, độ phì, pH, độ ẩm). Tác giả tổng hợp các công trình quốc tế (E. Mariotte, Polster, Thomas) và các nghiên cứu trong nước về công thức ruột bầu cho các loài cây lâm nghiệp bản địa. Đồng thời, chương trình bày chi tiết đặc điểm hình thái học, đặc tính sinh thái ưa sáng khi lớn nhưng cần che bóng lúc nhỏ, khí hậu thích hợp 16–19°C, lượng mưa 1.400–1.900 mm/năm của Sa mộc dầu. Về điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu, đất vườn ươm là đất Feralit phát triển trên sa thạch, có độ chua cao (pH từ 1,0 đến 1,7), hàm lượng chất hữu cơ, đạm và lân dễ tiêu ($P_2O_5$) ở mức nghèo; khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa vùng đồi trung du Thái Nguyên với lượng mưa trung bình năm 2.007 mm.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả chi tiết đối tượng cây con Sa mộc dầu gieo từ hạt, địa điểm vườn ươm và thời gian thực hiện 180 ngày. Tác giả trình bày sơ đồ bố trí thí nghiệm 1 luống gồm 18 ô tiêu chuẩn ngẫu nhiên (6 công thức $\times$ 3 lần lặp lại, 30 cây/ô). Toàn bộ 5 bước kỹ thuật được mô tả tuần tự: xử lý và kích thích hạt nứt nanh, chuẩn bị vật tư dụng cụ, đóng và xếp luống bầu, tra hạt làm giàn che, chăm sóc tưới nước dặm tỉa và phá váng. Hệ thống công thức tính giá trị trung bình, phương sai tổng số ($V_T$), phương sai nhân tố ($V_A$), phương sai ngẫu nhiên ($V_N$), tiêu chuẩn kiểm định $F$, và công thức tính sai số LSD được thiết lập chặt chẽ phục vụ xử lý số liệu.
Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả
Chương này phản ánh toàn bộ các dẫn liệu thực nghiệm thu thập sau 180 ngày gieo ươm:
- Tỷ lệ sống: Tỷ lệ sống toàn luống đạt 405/540 cây (75,0%). Tỷ lệ sống cao nhất ở công thức đối chứng CT6 đạt 94,4% (85 cây), tiếp theo là CT1 đạt 85,5% (77 cây), CT2 đạt 81,1% (73 cây), CT3 đạt 65,5% (59 cây), CT5 đạt 62,2% (56 cây) và thấp nhất là CT4 đạt 61,1% (55 cây). Tỷ lệ sống giảm rõ rệt khi bổ sung phân lân từ 2% trở lên.
- Sinh trưởng chiều cao ($H_{vn}$): CT1 cho chiều cao trung bình tốt nhất đạt 6,49 cm (các lần nhắc lại lần lượt là 6,16 cm; 6,80 cm; 6,51 cm). Kế tiếp là CT2 đạt 5,44 cm, CT6 đạt 5,43 cm, CT3 đạt 4,83 cm, CT4 đạt 4,69 cm và thấp nhất là CT5 đạt 4,47 cm. Kết quả phân tích ANOVA một nhân tố cho thấy giá trị $F_{tính} = 12,64102$ lớn hơn nhiều so với $F_{0,05} = 3,105875$ ($P = 0,000194$), chứng minh công thức ruột bầu tác động không đồng đều đến chiều cao cây. Kiểm định LSD ($LSD = 0,63$ cm) chỉ ra CT1 vượt trội có ý nghĩa thống kê so với tất cả các công thức còn lại.
- Sinh trưởng đường kính cổ rễ ($D_{00}$): CT1 dẫn đầu với đường kính cổ rễ đạt 0,146 cm (các lần lặp lại đạt 0,173 cm; 0,150 cm; 0,116 cm). CT2 đạt 0,119 cm, CT6 đạt 0,118 cm, CT3 đạt 0,106 cm, CT4 đạt 0,104 cm và CT5 thấp nhất đạt 0,092 cm. Phân tích ANOVA cho thấy $F_{tính} = 7,031309 > F_{0,05} = 3,105875$ ($P = 0,002754$). Với $LSD = 0,022$ cm, CT1 có sự sai dị rõ rệt và vượt trội so với CT2, CT4, CT5, CT6.
- Đánh giá chất lượng và tỷ lệ xuất vườn: Dựa trên ngưỡng phân loại (cây tốt và trung bình: $H_{vn} \ge 4,0$ cm và $D_{00} \ge 0,1$ cm; cây xấu: $H_{vn} < 4,0$ cm hoặc $D_{00} < 0,1$ cm), CT1 đạt tỷ lệ xuất vườn cao nhất là 97,7% (trong đó 70,3% cây tốt, 27,4% cây trung bình, chỉ có 2,3% cây xấu). CT2 đạt tỷ lệ xuất vườn 80,9%; CT6 đạt 76,5%; CT3 đạt 72,9%; CT4 đạt 63,7%; và thấp nhất là CT5 chỉ đạt 55,4% (cây xấu chiếm tới 44,6%).
Phần 5: Kết luận tồn tại và kiến nghị
Tác giả kết luận công thức CT1 (90% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục) là công thức tối ưu nhất cho sinh trưởng chiều cao, đường kính và tỷ lệ cây đủ tiêu chuẩn xuất vườn của Sa mộc dầu. Tồn tại của đề tài là thời gian nghiên cứu dừng lại ở 180 ngày nên chưa theo dõi được các giai đoạn sinh trưởng tiếp theo. Tác giả kiến nghị áp dụng công thức CT1 vào thực tiễn ươm cây giống, đồng thời tiếp tục nghiên cứu các tỷ lệ phân bón khác và theo dõi cây con sau khi đưa ra trồng rừng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đưa ra các số liệu thực nghiệm đầy đủ về phản ứng sinh trưởng của loài cây Sa mộc dầu trước các tỷ lệ phân bón ruột bầu khác nhau qua bảng tổng hợp sau:
| Công thức thí nghiệm (CTTN) |
Thành phần ruột bầu |
Tỷ lệ sống (%) |
$H_{vn}$ trung bình (cm) |
$D_{00}$ trung bình (cm) |
Tỷ lệ đủ chuẩn xuất vườn (%) |
| Công thức 1 |
90% đất tầng A + 10% phân chuồng |
85,5 |
6,49 |
0,146 |
97,7 |
| Công thức 2 |
89% đất tầng A + 10% phân chuồng + 1% lân |
81,1 |
5,44 |
0,119 |
80,9 |
| Công thức 3 |
88% đất tầng A + 10% phân chuồng + 2% lân |
65,5 |
4,83 |
0,106 |
72,9 |
| Công thức 4 |
87% đất tầng A + 10% phân chuồng + 3% lân |
61,1 |
4,69 |
0,104 |
63,7 |
| Công thức 5 |
86% đất tầng A + 10% phân chuồng + 4% lân |
62,2 |
4,47 |
0,092 |
55,4 |
| Công thức 6 (ĐC) |
100% đất tầng A (đối chứng) |
94,4 |
5,43 |
0,118 |
76,5 |
Từ các kết quả trên, đóng góp chính của đề tài bao gồm:
- Xác định được công thức ruột bầu tối ưu cho cây Sa mộc dầu giai đoạn 6 tháng đầu tại vườn ươm là CT1 (90% đất tầng A kết hợp 10% phân chuồng hoai mục). Công thức này đem lại chiều cao lớn nhất (6,49 cm), đường kính cổ rễ lớn nhất (0,146 cm) và tỷ lệ cây xuất vườn cao nhất (97,7%).
- Phát hiện quy luật ức chế sinh trưởng khi bón phân supe lân ở liều lượng cao cho cây con Sa mộc dầu: Việc bổ sung phân lân từ mức 2% đến 4% vào ruột bầu không làm tăng sinh trưởng mà trái lại làm giảm tỷ lệ sống (từ 81,1% ở mức 1% xuống 61,1%–65,5% ở mức 2%–4%), giảm kích thước thân rễ và gia tăng tỷ lệ cây xấu (lên tới 44,6% ở công thức 4% lân).
- Về mặt giải pháp, tác giả kiến nghị các vườn ươm sản xuất cây con Sa mộc dầu nên áp dụng công thức 90% đất tầng A + 10% phân chuồng hoai mục nhằm đạt chất lượng cây giống cao nhất, hạn chế tối đa chi phí mua phân lân thương phẩm không cần thiết.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự nêu và bộc lộ các giới hạn cụ thể sau:
- Giới hạn thời gian: Đề tài mới theo dõi sinh trưởng của cây trong phạm vi 180 ngày (6 tháng đầu đời), chưa đánh giá được toàn bộ chu kỳ gieo ươm hoàn chỉnh cho tới thời điểm trồng rừng thực tế.
- Giới hạn biến số nghiên cứu: Tỷ lệ phân chuồng hoai mục mới chỉ cố định ở một mức 10%, chưa khảo sát các thang tỷ lệ phân chuồng khác (như 5%, 15%, 20%); chưa đánh giá tác động phối hợp của các loại phân hữu cơ vi sinh, phân đạm, kali hoặc các chất phụ gia cải tạo đất (vỏ trấu, mùn cưa, xơ dừa).
- Giới hạn địa bàn và lập địa: Nghiên cứu được thực hiện tại một vườn ươm cố định ở Thái Nguyên trên nền đất Feralit sa thạch địa phương, do đó cần được kiểm chứng lặp lại trên các vùng sinh thái bản địa của loài (như Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa).
Hướng nghiên cứu tiếp theo mà tác giả đề xuất là tiếp tục kéo dài thời gian theo dõi sinh trưởng của các lô cây thí nghiệm này ở giai đoạn vườn ươm lớn hơn, đồng thời triển khai nghiên cứu đa dạng hóa các công thức phân bón hữu cơ và khoáng vi lượng để hoàn thiện quy trình kỹ thuật gieo ươm cây Sa mộc dầu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học và giảng viên các ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Quản lý tài nguyên và Môi trường thực hiện các đề tài nghiên cứu thực nghiệm gieo ươm cây lá kim quý hiếm.
- Kỹ sư lâm sinh, cán bộ kỹ thuật tại các vườn ươm giống lâm nghiệp, ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia có nhiệm vụ bảo tồn, phục hồi loài Sa mộc dầu tại vùng núi phía Bắc.
- Phần đáng tham khảo nhất là phương pháp xử lý kích thích nảy mầm hạt giống Sa mộc dầu bằng phương pháp sốc nhiệt nước ấm (40°C) kết hợp ủ túi vải nứt nanh; cách thức thiết kế khối thí nghiệm 1 luống chia ô lặp lại ngẫu nhiên; và quy trình ứng dụng phân tích phương sai ANOVA một nhân tố cùng phép thử so sánh LSD trên bảng tính Excel trong nghiên cứu lâm nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao công thức đối chứng CT6 có tỷ lệ sống cao nhất (94,4%) nhưng không được chọn là công thức tốt nhất?
Dù đạt tỷ lệ sống sót cao nhất (94,4%), công thức đối chứng (100% đất tầng A không bón phân) có mức sinh trưởng chiều cao (5,43 cm) và đường kính cổ rễ (0,118 cm) thấp hơn đáng kể so với CT1 (6,49 cm và 0,146 cm). Đồng thời, tỷ lệ cây đạt chuẩn xuất vườn của CT6 chỉ đạt 76,5% với 23,5% cây phẩm chất xấu, thấp hơn nhiều so với CT1 (đạt 97,7% xuất vườn và chỉ có 2,3% cây xấu). Do đó, CT1 vượt trội toàn diện về mặt sinh trưởng và chất lượng cây giống.
2. Phân supe lân tác động như thế nào đến sinh trưởng của Sa mộc dầu trong thí nghiệm?
Số liệu thực nghiệm cho thấy việc tăng nồng độ phân lân từ 1% lên 4% trong ruột bầu gây tác động tiêu cực đến cây con. Khi tỷ lệ lân tăng, tỷ lệ sống giảm mạnh từ 81,1% (ở 1% lân) xuống 65,5% (ở 2% lân) và chỉ còn 61,1% (ở 3% lân). Chiều cao trung bình cũng giảm dần từ 5,44 cm (ở 1% lân) xuống 4,47 cm (ở 4% lân), đường kính cổ rễ giảm từ 0,119 cm xuống 0,092 cm. Điều này chỉ ra cây con Sa mộc dầu trong 6 tháng đầu không chịu được hàm lượng lân cao trong ruột bầu.
3. Tiêu chuẩn đánh giá cây Sa mộc dầu đủ điều kiện xuất vườn được quy định cụ thể ra sao?
Tác giả quy định cây con đủ tiêu chuẩn xuất vườn phải đạt phân loại tốt hoặc trung bình, với các tiêu chí định lượng: chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt từ 4,0 cm trở lên, đường kính cổ rễ ($D_{00}$) đạt từ 0,1 cm trở lên, thân thẳng, không bị sâu bệnh hay cong queo. Những cây có chiều cao dưới 4,0 cm hoặc đường kính dưới 0,1 cm hoặc bị biến dạng, sâu bệnh bị xếp vào loại xấu và không đủ điều kiện xuất vườn.
4. Dữ liệu khảo sát năm 2012 tại Hà Giang phản ánh thực trạng phân bố của loài cây này như thế nào?
Theo số liệu điều tra năm 2012 giữa Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và lực lượng Kiểm lâm Hà Giang, toàn tỉnh chỉ còn khoảng 80–90 cây Sa mộc dầu trưởng thành, phân bố rải rác tại các xã vùng cao của 3 huyện: Vị Xuyên, Hoàng Su Phì và Quản Bạ. Đáng chú ý, tại thôn Hóa Chéo Phìn (xã Tả Sử Choóng, Hoàng Su Phì) chỉ ghi nhận được 3 cá thể còn sót lại (gồm 1 cây cao khoảng 40 m đường kính 70 cm, 1 cây khoảng 30 tuổi đường kính 40 cm và 1 cây già gần đỉnh Gió Chéo Phìn).
5. Kết quả phân tích phương sai ANOVA cho thấy điều gì về ảnh hưởng của thành phần ruột bầu?
Phân tích phương sai một nhân tố đối với chỉ tiêu chiều cao cho giá trị $F = 12,64102$ ($P = 0,000194$) và đối với đường kính cổ rễ cho $F = 7,031309$ ($P = 0,002754$). Cả hai giá trị thực nghiệm đều lớn hơn nhiều so với giá trị lý luận $F_{crit} = 3,105875$ ở mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$. Điều này bác bỏ giả thuyết $H_0$ và khẳng định chắc chắn rằng các công thức ruột bầu khác nhau tạo ra sự phân hóa sinh trưởng rõ rệt, không phải do biến động ngẫu nhiên.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của Lê Khắc Sơn đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của các công thức ruột bầu đến sinh trưởng của cây con Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) qua 180 ngày thực nghiệm tại vườn ươm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Kết quả khẳng định công thức phối trộn 90% đất tầng A kết hợp 10% phân chuồng hoai mục là giá thể tối ưu nhất, giúp cây con đạt chiều cao 6,49 cm, đường kính cổ rễ 0,146 cm và tỷ lệ đủ tiêu chuẩn xuất vườn đạt 97,7%. Đề tài đồng thời cung cấp luận cứ thực nghiệm quan trọng cảnh báo việc lạm dụng phân supe lân nồng độ cao trong ruột bầu gây ức chế sinh trưởng và suy giảm tỷ lệ sống của loài cây lá kim quý hiếm này. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng trực tiếp cho công tác bảo tồn, nhân giống lâm nghiệp tại Việt Nam.