ĐẶT VẤN ĐỀ Chăn nuôi là một lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp, nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của mọi ngƣời dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập của hàng triệu ngƣời dân hiện nay. Chăn nuôi lợn không chỉ cung cấp phần lớn thịt mà còn là nguồn cung cấp phân hữu cơ cho cây trồng, tận dụng thức ăn và thu hút lao động dƣ thừa trong nông nghiệp. Trong những năm gần đây đời sống của nhân dân ta không ngừng đƣợc cải thiện và nâng cao, nhu cầu tiêu thụ thịt trong đó chủ yếu là thịt lợn ngày một tăng cả về số lƣợng và chất lƣợng đã thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn bƣớc sang bƣớc phát triển mới. Chăn nuôi vốn là một ngành rất quen thuộc, bởi vì đã có từ rất lâu trên thế giới.
Ban đầu chỉ ở quy mô gia đình nhằm đảm bảo nguồn thực phẩm động vật hoặc sức kéo cho hộ hay nhóm gia đình nhỏ. Nhƣng hiện nay ngành chăn nuôi đã phát triển ở mức độ sản xuất hàng hoá với quy mô ngày càng lớn nhằm cung cấp một số lƣợng lớn thực phẩm động vật cho nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con ngƣời. Các tiến bộ khoa học liên tục đƣợc áp dụng nhằm tạo ra năng suất và chất lƣợng cao hơn. Tuy nhiên từ quá trình chăn nuôi tập trung cao độ này đã nảy sinh một vấn đề thu hút sự quan tâm của xã hội, đó là ô nhiễm môi trƣờng.
Khó khăn trong việc thu gom, tồn trữ và xử lý các chất thải chăn nuôi là những vấn đề đầu tiên gắn liền với chăn nuôi tập trung. Chất thải trong chăn nuôi heo bao gồm phân, nƣớc tiểu, chất độn, thức ăn rơi vãi và nƣớc làm vệ sinh chuồng trại. Không giống nhƣ phân bò hay phân gia cầm khác, việc xử lý và quản lý chất thải trong chăn nuôi gặp rất nhiều khó khăn. Chất thải gia súc còn tác hại ở phạm vi lớn hơn, thông qua việc gây ô nhiễm đất, nƣớc, không khí, gây ảnh hƣởng đến sức khoẻ con ngƣời.
Đối với ô nhiễm môi trƣờng nƣớc do chất thải chăn nuôi bao gồm cả hiện tƣợng phú dƣỡng hoá đối với nƣớc mặt làm cho nƣớc có mùi khó chịu không sử dụng đƣợc, bên cạnh đó chính sự phát triển của tảo thƣờng dẫn đến sự tái ô nhiễm. 1 Ở các nƣớc công nghiệp, chăn nuôi là một trong những ngành gây ô nhiễm lớn nhất và đang là mối quan tâm của nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ Mỹ, Anh, Hàn Quốc. Nhiều nghiên cứu đã thực hiện trên các mặt quản lý, xử lý và sử dụng nhằm tái sử dụng các chất thải chăn nuôi. Tại các nƣớc Ấn Độ, Trung Quốc những nghiên cứu ứng dụng sản xuất biogas từ phân gia súc làm phân bón đã thực hiện rất nhiều từ những năm 1970 (Broda; Kijne).
Ở Việt Nam, khía cạnh môi trƣờng của ngành chăn nuôi mới chỉ đƣợc quan tâm trong một vài năm trở lại đây khi ngành chăn nuôi hàng hoá đang ngày càng gia tăng. Một số ít nghiên cứu về sử dụng phân gia súc vào các mục đích kinh tế khác nhƣ phân bón, biogas… đã đƣợc thực hiện. Tuy nhiên chƣa có những nghiên cứu đánh giá toàn diện hiện trạng ô nhiễm môi trƣờng do chăn nuôi nhằm xây dựng các chính sách quản lý, các giải pháp kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm và tái sử dụng hợp lý chất thải gia súc. Tại xã Dân Chủ, Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình có ngành nghề chăn nuôi lợn và đã có những biểu hiện rõ rệt của ô nhiễm môi trƣờng.
Chính vì vậy, xuất phát từ thực tế tại xã Dân Chủ, dƣới sự hƣớng dẫn của ThS. Bùi Văn Năng, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi đến môi trường nước ngầm tại xã Dân Chủ - Thành Phố Hòa Bình - tỉnh Hòa Bình” nhằm làm rõ những ảnh hƣởng của hoạt động chăn nuôi tới chất lƣợng môi trƣờng xung quanh. 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Vai trò và đặc điểm của ngành chăn nuôi. Vai trò của ngành chăn nuôi.
Các vật nuôi vốn là các động vật hoang đƣợc con ngƣời thuần dƣỡng, chọn giống, lai tạo, làm cho chúng thích nghi với cuộc sống gần ngƣời. Chăn nuôi là ngành cổ xƣa nhất của nhân loại, nó cung cấp cho con ngƣời thực phẩm có dinh dƣỡng cao, nguồn đạm động vật nhƣ thịt, sữa, các sản phẩm từ sữa, trứng. Sản phẩm của ngành chăn nuôi còn là nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng (tơ tằm, lông cừu,da), cho công nghiệp thực phẩm (đồ hộp), dƣợc phẩm và cho xuất khẩu. Ngành chăn nuôi còn cung cấp sức kéo và phân bón cho ngành trồng trọt, tận dụng phụ phẩm của ngành trồng trọt.
Trồng trọt kết hợp với chăn nuôi tạo ra nền nông nghiệp bền vững. Đặc điểm của ngành chăn nuôi. Sự phát triển và phân bố ngành chăn nuôi phụ thuộc chặt chẽ vào cơ sở nguồn thức ăn. Đây là đặc điểm quan trọng nhất.
Ngoài nguồn thức ăn ở các đồng cỏ tự nhiên ra thì phần lớn thức ăn của ngành chăn nuôi đều do ngành trồng trọt cung cấp. Cơ sở thức ăn cho chăn nuôi đã có tiến bộ vƣợt bậc nhờ những thành tựu khoa học – kỹ thuật. Các đồng cỏ tự nhiên đƣợc cải tạo, các đồng cỏ trồng với các giống mới cho năng suất và chất lƣợng cao ngày càng phổ biến. Thức ăn cho gia súc, gia cầm đƣợc chế biến bằng phƣơng pháp công nghiệp.
Trong nền nông nghiệp hiện đại, ngành chăn nuôi có nhiều thay đổi về hình thức (từ chăn thả, sang chăn nuôi nửa chuồng trại, rồi từ chuồng trại đến chăn nuôi công nghiệp) và theo hƣớng chuyên môn hoá (thịt, sữa, len, trứng…) 1. Các ngành chăn nuôi. Ngành chăn nuôi gia súc. Trâu, bò là các loại gia súc lớn đƣợc nuôi phổ biến để lấy thịt, sữa, da và các sản phẩm khác.
Ở các nƣớc đang phát triển, trâu bò là nguồn sức kéo chủ yếu 3 trong nông nghiệp. Thịt trâu, bò chiếm khoảng 40% sản lƣợng thịt sử dụng trên toàn thế giới. Chăn nuôi bò Bò chiếm vị trí hàng đầu trong ngành chăn nuôi, thƣờng đƣợc chuyên môn hoá theo ba hƣớng: lấy thịt, lấy sữa hay lấy thịt - sữa. Bò thịt đƣợc nuôi phổ biến trên các đồng cỏ tƣơi tốt ở châu Âu, châu Mĩ theo hình thức chăn thả.
Trƣớc khi đƣa vào lò mổ, bò đƣợc vỗ béo ở các chuồng trại với thức ăn chế biến tổng hợp. Bò sữa đƣợc nuôi chủ yếu trong các chuồng trại, đƣợc chăm sóc chu đáo, áp dụng những thành tựu chăn nuôi hiện đại. Đàn bò của thế giới vào đầu thế kỉ XXI có trên 1,3 tỉ con, với sản lƣợng thịt gần 50 triệu tấn/năm. Nƣớc có đàn bò đông nhất là Ấn Độ, nhƣng bò ở nƣớc này đƣợc nuôi dƣỡng kém, sức sinh sản thấp.
Những nƣớc sản xuất nhiều thịt bò và sữa bò nhất là Hoa Kì, Bra-xin, các nƣớc EU, Trung Quốc, Ác-hen-ti-na. Chăn nuôi trâu Trâu là vật nuôi của miền nhiệt đới nóng ẩm. Hiện nay, ngƣời ta nuôi trâu chủ yếu để lấy sức kéo, phân bón, da và sữa. Đàn trâu của thế giới hiện có trên 160 triệu con.
Khu vực nuôi nhiều trâu nhất là Nam Á, Đông Nam Á. Chăn nuôi lợn Lợn là vật nuôi quan trọng thứ hai sau bò, dùng để lấy thịt, mỡ, da. Sản lƣợng thịt lợn hiện nay vƣợt sản lƣợng thịt trâu, bò. Đối với các nƣớc đang phát triển, nuôi lợn còn tận dụng đƣợc nguồn phân bón ruộng.
Thức ăn cho lợn cần nhiều tinh bột. Ngoài ra, lợn có thể đƣợc nuôi bằng thức ăn thừa của ngƣời và phế, phụ phẩm của các nhà máy chế biến thực phẩm. Vì vậy, lợn thƣờng nuôi tập trung ở các vùng trồng cây lƣơng thực thâm canh, các vùng ngoại thành. Đàn lợn của thế giới hiện nay có trên 900 triệu con, trong đó gần ½ thuộc về Trung Quốc.
Chăn nuôi gia cầm. Chăn nuôi gia cầm có mặt ở tất cả các quốc gia trên thế giới, để cung cấp thịt, trứng cho bữa ăn hàng ngày của con ngƣời và là nguyên liệu cho công nghiệp chế biến thực phẩm. Trong các loại gia cầm thì gà là vật nuôi quan trọng hơn cả. Số lƣợng gia cầm của thế giới tăng nhanh, hiện có trên 15 tỉ con.
Trung Quốc, Hoa Kì, các nƣớc EU, Bra-xin, Liên bang Nga, Mê-hi-cô là những nƣớc có ngành chăn nuôi gia cầm phát triển. Ô nhiễm môi trƣờng do ngành chăn nuôi. Nguồn phát thải ô nhiễm. Chất thải sinh ra do hoạt động chăn nuôi bao gồm ở dạng rắn, lỏng nhƣ: phân, thức ăn rơi vãi, nƣớc tiểu, nƣớc rửa chuồng, … và khí thải chăn nuôi thải ra.
Mặt khác, khối lƣợng chất thải sinh ra từ vật nuôi phụ thuộc vào chủng loại, giống, giai đoạn sinh trƣởng, chế độ dinh dƣỡng và phƣơng thức vệ sinh chuồng trại.1: Lượng phân gia súc, gia cầm thải ra hàng ngày tính trên phần trăm tỉ trọng cơ thể. Loại gia súc Khối lƣợng phân (% tỉ trọng) Heo 6–8 Bò sữa 7–8 Bò Thịt 5–8 Gà, vịt 5 (Nguồn: Trương Thanh Cảnh, 2006) 5 1. Thành phần chất thải chăn nuôi heo. Chất thải rắn.
Phân: Phân là chất thải rắn do heo bài tiết ra mỗi ngày, ở dạng rắn hoặc lỏng. Tuỳ vào độ tuổi, chế độ dinh dƣỡng mà số lƣợng, thành phần của phân khác nhau. Thành phần phân heo chủ yếu gồm nƣớc (56 – 83%) và các chất hữu cơ. Ngoài ra còn có các chất dinh dƣỡng N, P, K dƣới dạng các hợp chất hữu cơ và vô cơ.
Phân heo nói chung đƣợc xếp vào loại phân lỏng hoặc hơi lỏng.2: Thành phần hoá học của phân heo có trọng lượng từ 70 – 100kg. Đặc tính Đơn vị Giá trị pH - 6,47 – 6,95 Vật chất khô g/kg 213 – 342 N-NH4+ g/kg 0,66 – 0,76 Nts g/kg 7,99 – 9,32 Tro g/kg 32,5 – 93,3 Chất xơ g/kg 151 – 261 Cacbonat g/kg 0,23 – 2,11 Các axit béo mạch ngắn g/kg 3,83 – 4,47 (Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997, 1998) Theo nghiên cứu của TS.Trƣơng Thanh Cảnh (1997, 1998) thì Ntổng trong phân heo 70 – 100 kg chiếm từ 7,99 – 9,32 g/kg. Đây là nguồn dinh dƣỡng có giá trị, cây trồng dễ hấp thu và góp phần cải tạo đất nếu sử dụng hợp lý. Ngoài ra, trong phân heo cũng nhƣ phân gia súc còn chứa rất nhiều virus, ấu trùng, trứng giun sán… có hại cho sức khoẻ của con ngƣời và gia súc.
Các loại này có thể tồn tại vài ngày đến vài tháng trong phân, trong nƣớc thải và trong đất. Xác gia súc: Chúng có đặc tính phân huỷ sinh học, bốc mùi hôi thối lan nhanh trong không khí và cũng nhƣ tác nhân truyền bệnh cho ngƣời và vật nuôi.