ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng là tài nguyên quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh của nhân loại. Rừng không những là tài nguyên có thể tái tạo và phục hồi mà rừng còn có chức năng sinh thái vô cùng quan trọng. Rừng là thành phần quan trọng nhất của sinh quyển, là nguồn vật chất và tinh thần cơ bản thỏa mãn nhu cầu của con ngƣời. Rừng và đời sống xã hội là hai mặt của một vấn đề, có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ và nếu có so sánh với cái chung thì có những đặc điểm riêng của nó.
Tất cả mọi đời sống xã hội, các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của con ngƣời đều có liên quan đến rừng. Nếu không có rừng thì xã hội loài ngƣời sẽ không tồn tại đƣợc. Song để tách rừng và đời sống xã hội không đơn giản bởi thực tế cho ta thấy rừng là một hệ sinh thái vô cùng phong phú và phức tạp bao gồm nhiều thành phần và các quy luật sắp xếp khác nhau theo không gian và thời gian. Để duy trì và ổn định hệ sinh thái này đòi hỏi con ngƣời cần nghiên cứu tìm hiểu sâu sắc về hệ sinh thái rừng và từ đó có những biện pháp hợp lý.
Tuy nhiên những kho tàng quý báu của hệ sinh thái còn là một bí ẩn nhiều điều lý thú mà sự hiểu biết của chúng ta còn rất hạn chế. Ở nƣớc ta, rừng và đất rừng chiếm 3/4 diện tích lãnh thổ, song thực tế rừng tự nhiên còn rất ít, chủ yếu là rừng thứ sinh ở những mức độ thoái hóa khác nhau. Nguyên nhân chủ yếu là do ý thức tác động bất hợp lý của con ngƣời nhƣ khai thác lạm dụng quá mức do thiếu hiểu biết lợi ích lâu dài của rừng mang lại. Theo thống kê thì độ che phủ năm 1943 là 43% do bị tàn phá nặng nề vào những năm 1980 đến năm 1990 độ che phủ giảm xuống còn 28,4% và đang có xu hƣớng là tăng vào những năm gần đây [2] (Nguồn: Chương trình Kiểm kê rừng Nhà nước - 03/2001 TTg, công bố tháng 12 năm 2002).
Ngày nay chỉ còn khoảng 9 triệu ha rừng tự nhiên trong đó rừng giàu chiếm khoảng 30%, rừng trung bình khoảng 35%, còn lại là rừng phục hồi. Song song đó là diện tích rừng trồng tăng lên mạnh mẽ trong đó có cả rừng sản xuất và rừng trồng đặc dụng. Để nhằm giảm thiểu các thiên tai, hạn hán, 1 lũ lụt, duy trì sự cân bằng của hệ sinh thái, rừng phòng hộ của nƣớc ta đã và đang đóng góp một vai trò quan trọng. Thực tế muốn tăng cao tính phòng hộ của rừng đòi hỏi phải có những biện pháp tác động hợp lý nhằm tạo ra rừng trồng có cấu trúc bền vững.
Đây là vấn đề mà các nhà khoa học lâm nghiệp rất quan tâm. Hiện nay Đảng và Nhà nƣớc rất quan tâm tới việc phục hồi rừng ở Việt Nam nói chung và phục hồi rừng Dẻ nói riêng. Bởi Dẻ ăn quả là nhóm loài cây đa tác dụng và có giá trị kinh tế cao: gỗ có thể làm nhà, đồ gia dụng.đặc biệt hạt dẻ là loại thực phẩm có giá trị. Tuy nhiên những nghiên cứu về Dẻ gần đây còn rất ít chủ yếu mới dừng lại ở việc mô tả hình thái và phân bố, còn thiếu cơ sở khoa học cho việc xây dựng hƣớng dẫn kỹ thuật gây trồng và phát triển.
Xuất phát từ thực tiễn đó, nghiên cứu đặc điểm sinh học và đề xuất biện pháp kỹ thuật nuôi dƣỡng, xúc tiến tái sinh gây trồng rừng Dẻ ăn quả ở xã Hoàng Hoa Thám-Chí Linh-Hải Dƣơng đƣợc thực hiện nhằm góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở khoa học về nghiên cứu ảnh hƣởng của độ tàn che tới việc tái sinh của dẻ ăn quả. Vì vậy tôi chọn đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của độ tàn che tới đặc điểm sinh trưởng của Dẻ ăn quả (Castanopsis boisii Hickel et A.Camus) tái sinh tại xã Hoàng Hoa Thám-Chí Linh-Hải Dương" góp phần giải quyết những khó khăn trên. Đề tài đi vào việc đánh giá khả năng tái sinh rừng Dẻ theo độ tàn che để từ đó đƣa ra các biện pháp nhằm khôi phục và phát triển rừng Dẻ mang lại lợi ích kinh tế và sinh thái tốt nhất đồng thời hƣớng tới phát triển rừng Dẻ bền vững. 2 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU Hình 1.
Cây bị mục rỗng Hình 2. Cây tái sinh chồi và tái sinh hạt Hình 3. Tầng cây bụi khu vực nghiên cứu 3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Kết cấu quần thụ có ảnh hƣởng tới tái sinh rừng.
Tác giả Yukervich (1960) đã chứng minh độ tàn che tối ƣu cho sự phát triển bình thƣờng của đa số loài cây gỗ là 0.7 ( Dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2004) [14] Ở châu Phi, trên cơ sở thu thập số liệu của Taylor (1954) Barnard (1955) xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ sung tái sinh nhân tạo. Ngƣợc lại các tác giả nghiên cứu tái sinh tự nhiên nhiệt đới châu Á nhƣ: Bava (1954), Budowski (1956), Kationt (1965) lại nhận định dƣới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lƣợng cây tái sinh có giá trị kinh tế do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dƣới tán. Sự cạnh tranh giữa các loài cây tái sinh và lớp cây bụi thảm tƣơi dƣới tán rừng có thể rất quyết liệt và đây là một trong những nguyên nhân cơ bản làm tăng tỷ lệ chết của cây tái sinh (Bi và cộng sự, 2007) [1] V.Alecxeep (1975) cho rằng ánh sáng dƣới tán rừng là một nhân tố chủ yếu để xác định tình trạng cây tái sinh, từ mật độ, phân bố cây tới sinh trƣởng của cây. Thông thƣờng khi tuổi của cây tái sinh tăng lên thì nhu cầu ánh sáng của nó cũng tăng theo.
Mốt số loài cây ƣa sáng, cây tái sinh có thể chết ở điều kiện ánh sáng 10-12% (ở tuổi dƣới 2) và 25-30% ở tuổi lớn hơn 5- 10 tuổi (dẫn theo Hoàng Kim Ngũ và Phùng Ngọc Lan, 2005) [4]. Tiểu hoàn cảnh rừng chịu ảnh hƣởng nhiều bởi các lỗ trống dƣới tán rừng. Sự tăng cƣờng độ ánh sáng tiếp đến mặt đất là một trong những điiều kiện quan trọng nhất ảnh hƣởng tới nảy mầm của hạt giống và sự sinh trƣởng của cây tái sinh. Tuy nhiên, cần thấy rằng trong cả 2 trƣờng hợp: quá nhiều ánh sáng cũng nhƣ sự che bóng quá mức sẽ không có lợi cho sinh trƣởng của cây non (Girma và cộng sự 2010) [10].
Vì vậy điều chỉnh độ tàn che của rừng 4 là một trong những tác nghiệp lâm sinh quan trọng nhất đảm bảo tái sinh rừng diễn ra theo đúng yêu cầu đã đƣợc xác định trƣớc. Ewin (1996) [6] đã chỉ ra rằng ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ và vật rơi rụng là các yếu tố có ảnh hƣởng rõ rệt nhất trong quá trình tái sinh lớp cây dƣới tán rừng. Sự nảy mầm của hạt để taọ thành lớp cây tái sinh phục thuộc vào tổ hợp các điều kiện ánh sáng, độ ẩm, nhiệt độ đó phản ánh một phần rất quan trọng của nhân tố ánh sáng trong quá trình tái sinh. Nghiên cứu cây tái sinh tự nhiên : Công trình nghiên cứu của Richards P.W (1965) [6], tác giả cuốn Rừng mƣa nhiệt đới Bernard Roller (1974) tổng kết các công trình nghiên cứu về phân bố cây tái sinh tự nhiên đã nhận xét: trong các OTC kích thƣớc nhỏ (1m*1m, 1m*1.5m) cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có dạng phân bố poisson.
Về phƣơng pháp điều tra điều tra tái sinh, nhiều tác giả đã sử dụng cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống do Lowdermilk (1972) đề nghị, với diện tích ô dạng bản thông thƣờng từ 1-4m2. Bên cạnh đó cũng có nhiều tác giả đề nghị sử dụng điều tra theo dài hẹp với các ô đo đếm có diện tích biến động từ 10- 100 m2. Phƣơng pháp này điều tra tái sinh sẽ khó xác định đƣợc quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên mặt đất rừng. Để giảm sai số khi thống kê Barnard (1950) đã đề nghị một phƣơng pháp “ điều tra chuẩn đoán” theo đó kích thƣớc ô đếm có thể thay đổi tùy theo giai đoạn pháp triển của cây tái sinh ở các trạng thái khác nhau.
Phƣơng pháp này đƣợc áp dụng rộng rãi hơn vì nó thích hợp cho từng đối tƣợng cụ thể (Nguyễn Thị Thu Trang 2009) [8]. Về điều tra và đánh giá cây tái sinh trong rừng nhiệt đới, M.Loeschau (1977) [15] đã đƣa ra một số đề nghị sau: Đánh giá một khu vực bằng cách rút mẫu tự nhiên, trừ vào trƣờng hợp đặc biệt có thể dựa vào những nhận xét tổng quats về mật độ tái sinh nhƣ nơi có mật độ rất lớn. Các số liệu này có thể là cơ sở cho các quyết định trong từng kế hoạch lâm sinh cụ thể, đặc biệt là xét lâm phần có xứng đáng đƣợc chăm sóc hay không? Việc chăm sóc cấp bách đến mức nào? Cƣờng độ chăm sóc ra sao? Tác giả cũng đề nghị những chỉ tiêu 5 cần điều tra gồm có mật độ, chất lƣợng cây tái sinh cũng nhƣ đƣờng kính ngang ngƣợc của những cây có giá trị lớn trong khoảng từ 1 cm (cây tái sinh đã đảm bảo) đến 12. Khi nghiên cứu về rừng nhiệt đới châu Á, Van Steenis (1956) đã đƣa ra kết luận sau: “tái sinh vệt thích hợp với những cây ưa sáng mọc nhanh, vòng đời ngắn; cây tái sinh phân tán, liên tục phù hợp với loài cây ban đầu chịu bóng hoặc những loài cây ưa bóng” [9].
Khi nghiên cứu về những khu rừng nƣơng rẫy bị bỏ hoang ở Brazil, Weidelt (1968) cho thấy, sự phát triển của các khu rừng thứ sinh có xu hƣớng tiến đến giá trị ban đầu của rừng nguyên sinh về số lƣợng và thành phần loài. Tuy nhiên, nghiên cứu này chƣa đề cập đến các biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình đó diễn ra nhanh và hiệu quả [12]. Năm 1975, khi phân tích sự phát triển của thảm thực vật thứ sinh, Whitimore đã nhấn mạnh: “khoảng thời gian để các khu rừng tái sinh hạt đạt đƣợc tới trạng thái là rừng nguyên sinh có thể tới hàng trăm năm. Các khu rừng thuần loài đƣợc tạo thành bởi những loài mà hạt của chúng có thể nảy mầm và trụ đƣợc trên các khu đất trống vào thời điểm thích hợp và cần lợi dụng lớp cây chồi, xử lý thực bì theo băng rạch, tránh phát nắng để sớm tạo hoàn cảnh rừng”.