Tổng quan luận án

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác động nghiêm trọng của xoáy thuận nhiệt đới đối với đời sống kinh tế - xã hội. Theo thống kê của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) được trích dẫn trong văn bản, trong 50 năm qua đã có 1.942 trường hợp thiên tai do xoáy thuận nhiệt đới gây ra trên toàn cầu, làm gần 800.000 người thiệt mạng và gây thiệt hại kinh tế 407,6 tỷ USD (trung bình mỗi ngày có 43 người chết và thiệt hại 78 triệu USD). Việt Nam nằm tại khu vực ổ bão Tây Bắc Thái Bình Dương – nơi có khoảng 30 cơn bão hoạt động mỗi năm, chiếm 38% tổng số bão toàn cầu. Mặc dù các mô hình số trị dự báo thời tiết và dự báo bão đã được đưa vào ứng dụng nghiệp vụ tại Việt Nam, chất lượng dự báo nhiều thời điểm vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế do sai số quỹ đạo và cường độ còn lớn. Đặc biệt, khi bão tiến sát bờ biển, sự tương tác giữa hoàn lưu bão với địa hình đồi núi phức tạp của dải đất liền cùng sự xâm nhập của không khí lạnh từ phía bắc khiến cấu trúc các trường khí tượng biến đổi mạnh mẽ, làm phức tạp hóa công tác dự báo vị trí đổ bộ, vùng gió mạnh và mưa lớn.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là việc thiếu hụt những luận giải thỏa đáng về cơ chế khống chế cũng như biểu hiện cụ thể của địa hình Việt Nam và không khí lạnh lên sự biến đổi cấu trúc đối xứng/bất đối xứng của các trường khí tượng (gió, mây, mưa) và quỹ đạo di chuyển của bão khi tiến vào gần bờ.

Để giải quyết khoảng trống đó, luận án xác định các câu hỏi nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Bão sẽ chịu tác động của địa hình Việt Nam như thế nào?
  2. Cấu trúc của các trường khí tượng khi bão tiến vào gần bờ biển Việt Nam sẽ ra sao trong điều kiện có sự xâm nhập của không khí lạnh?
  3. Cơ chế nào khống chế các tác động đó?

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm hai nội dung chính:

  1. Mô phỏng được ảnh hưởng của địa hình Việt Nam tới cấu trúc đối xứng của bão thời điểm trước và sau khi bão đổ bộ vào vùng duyên hải Việt Nam;
  2. Đánh giá được ảnh hưởng của không khí lạnh tới cấu trúc các trường trong bão trên Biển Đông.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các cơn bão hoạt động trên Biển Đông, đặc biệt là các cơn bão chịu tác động của không khí lạnh và đổ bộ vào vùng duyên hải Việt Nam; tác động của độ cao địa hình duyên hải Việt Nam đến cấu trúc bão đổ bộ.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về không gian: Khu vực Biển Đông và vùng duyên hải Việt Nam.
    • Về thời gian: Giai đoạn 2014–2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan một hệ thống phong phú các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về lý thuyết cấu trúc bão, tác động của địa hình và tác động của không khí lạnh:

Về lý thuyết hình thành và cấu trúc đối xứng của bão: Riehl (1948a,b) và Palmén (1948) đã tổng hợp các điều kiện nhiệt động lực học nền tảng cho sự hình thành bão (nhiệt độ bề mặt biển từ 26–27°C trở lên, thông số Coriolis đủ lớn trong đới 5–20° hai bên xích đạo, độ đứt gió thẳng đứng nhỏ, trường phân kỳ trên cao và nhiễu động ban đầu ở tầng thấp liên quan tới dải hội tụ nhiệt đới ITCZ). Gray (1967) chuẩn hóa sáu thông số môi trường thuận lợi (ba nhân tố động lực học và ba nhân tố nhiệt động lực học). Kleinschmidt (1951) là người đầu tiên thiết lập công thức xác định vận tốc gió cực đại $V$ theo năng lượng nhiệt đại dương $E$: $V^2 = 2E [q^2 / (1 - q^2)]$. Palmén (1948) xây dựng mặt cắt thẳng đứng đầu tiên của bão dựa trên thám sát năm 1944. Riehl và Malkus (1960), Riehl (1963b) xây dựng hệ phương trình động lực khí quyển thủy tĩnh cho bão dừng. Tiếp đó, các mô hình số ban đầu của Charney và cs. (1950), Sasaki và Miyakoda (1954), Kasahara (1961), Rosenthal (1964), Kuo (1965), Yamasaki (1968) đã mô phỏng quá trình bất ổn định có điều kiện và vai trò giải phóng tiềm nhiệt. Hawkins và Rubsam (1968), Hawkins và Imbembo (1976) mô tả chi tiết cấu trúc lõi nóng qua số liệu máy bay thám sát bão Inez (1966). Weatherford và Gray (1988a,b) khẳng định quan hệ đồng biến giữa tốc độ gió cực đại và khí áp cực tiểu tâm bão. Holland và Merrill (1984), Dean và cs. (2009), Demuth (2006), Kossin (2017, 2018), Chavas và Emanuel (2010, 2014) xác nhận bán kính gió bão tuân theo luật phân bố chuẩn loga. Emanuel và Nolan (2004), Emanuel và Rotunno (2011) luận giải profile gió xuyên tâm và cân bằng lớp biên Ekman. Hiện tượng hai thành mắt bão đồng tâm được phát hiện sớm bởi Fortner (1958) ở siêu bão Sarah (1956), sau đó được Willoughby và cs. (1982), Kossin và Sitkowski (2009), Houze và cs. (2007) phân tích qua số liệu radar Doppler và vệ tinh viễn thám.

Về tác động của địa hình đến bão: Các công trình quốc tế của Brand và Blelloch (1974), Chang (1982), Bender (1987), Yeh và Elsberry (1993) nghiên cứu sự biến đổi cường độ và độ lệch quỹ đạo của bão quanh đảo Đài Loan. Tuleya (1983, 1994), Shen và Tuleya (2002), Kimball (2008) chỉ ra sự suy giảm bốc hơi, tăng ma sát bề mặt và thay đổi thông lượng nhiệt dẫn đến sự tan rã của bão khi đổ bộ. Jian và Wu (2008) chứng minh chuyển động thắt nút của bão Haitang (2005) do hội tụ gió mực thấp cưỡng bức bởi địa hình. Cheung, Huang và Lee (2008), Dong và cs. (2010), Wu và Liang (2011), Huang và Wu (2011), Jang và Chun (2013), Huang và Yang (2014) khảo sát vai trò của độ cao địa hình đối với lượng mưa và sự lệch hướng của các cơn bão Krosa (2007), Morakot (2009), Saomai (2006). Nguyễn Văn Hiệp và Chen (2011, 2014) sử dụng các sơ đồ ban đầu hóa xoáy mới trên mô hình WRF để nâng cao chất lượng mô phỏng cấu trúc bất đối xứng và mưa bão.

Về ảnh hưởng của không khí lạnh và gió mùa: Fett (1968), Palmén và Newton (1969) phân tích sự tương tác giữa xoáy thuận nhiệt đới và không khí lạnh dẫn đến tái sinh thành xoáy thuận ngoại nhiệt đới. Li Tianfu (2003) nghiên cứu mưa lớn tại đảo Hải Nam do bão kết hợp không khí lạnh. Han Ying và cs. (2008) chỉ ra gradient nhiệt độ tăng do không khí lạnh xâm nhập thúc đẩy cường độ xoáy bão. Chen và Matsumoto (2017) khẳng định sự cùng tồn tại của không khí lạnh và xoáy thuận nhiệt đới gây mưa đặc biệt lớn ở miền Trung Việt Nam.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu khí hậu bão và không khí lạnh của Phạm Ngọc Toàn và Phan Tất Đắc (1993), Nguyễn Đức Ngữ (2010), Mai Văn Khiêm và cs. (2015), Lê Văn Thảng (1992), Nguyễn Văn Khánh và Phạm Đình Thụy (1985), Nguyễn Vũ Thi (1985), Đặng Thị Hồng Nga và cs. (2010), Đinh Văn Ưu và cs. (2010) đã thống kê quy luật di chuyển, tần số và mùa hoạt động của bão đổ bộ. Về tương tác bão – không khí lạnh, Lê Thanh Sơn (1985, 1987), Trần Gia Khánh (1998), Lê Đình Quang (1991), Lê Văn Thảo (1996), Nguyễn Ngọc Thục (1992), Trần Đình Bá (1979, 1985, 1997), Nguyễn Văn Thắng (2011), Trần Công Minh (2003, 2007) đã phân tích hai cơ chế tác động: tác động trực tiếp khi khối không khí lạnh khô tràn vào dưới dạng nêm lạnh làm triệt tiêu năng lượng ẩm khiến bão suy yếu nhanh; và tác động gián tiếp khi không khí lạnh ở xa làm gia tăng gradient khí áp nằm ngang, mở rộng phạm vi gió mạnh ở rìa phía bắc hoàn lưu bão. Về mô hình số và ban đầu hóa xoáy, Trịnh Văn Thư (1992), Bùi Hoàng Hải và Phan Văn Tân (2002, 2004), Phan Văn Tân và Nguyễn Lê Dũng (2008), Trần Tân Tiến và Lê Thị Hồng Vân (2009), Dư Đức Tiến và cs. (2016), Kiều Thị Xin và cs. (2002), Hoàng Đức Cường và cs. (2005, 2010), Kiều Quốc Chánh (2011), Võ Văn Hòa và cs. (2006, 2012) đã thử nghiệm cài xoáy giả, đồng hóa 3D-VAR, bộ lọc Kalman tổ hợp (LETKF) và dự báo tổ hợp trên các mô hình MM5, RAMS, ETA, WRF.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các nghiên cứu trước đã đề cập đến tương tác bão – không khí lạnh và thử nghiệm mô hình số, việc mô phỏng và định lượng hóa một cách có hệ thống sự nhạy cảm của cấu trúc đối xứng/bất đối xứng (trường gió mực 10m, trường mây qua độ phản hồi vô tuyến, tỉ số xáo trộn nước mưa) và quỹ đạo bão đối với các mức độ cao địa hình khác nhau của dải duyên hải Việt Nam bằng mô hình WRF có ban đầu hóa xoáy động lực học vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên các cơ sở lý thuyết và hệ khái niệm chuẩn hóa về khí tượng học:

  • Khái niệm và phân loại xoáy thuận nhiệt đới: Dẫn chiếu theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai. Xoáy thuận nhiệt đới được phân chia thành năm cấp dựa trên tốc độ gió lớn nhất vùng gần tâm: Áp thấp nhiệt đới (cấp 6–7, 10,8–17,1 m/s), Bão (cấp 8–9, 17,2–24,4 m/s), Bão mạnh (cấp 10–11), Bão rất mạnh (cấp 12–15) và Siêu bão (từ cấp 16 trở lên).
  • Lý thuyết nhiệt động lực học bão: Dựa trên các nguyên lý bất ổn định có điều kiện của khí quyển, sự hội tụ ẩm trong lớp biên Ekman, cơ chế lõi nóng tầng đối lưu trên và bảo toàn mômen động lượng.
  • Lý thuyết tương tác không khí lạnh: Dựa trên mô hình nêm lạnh của Lê Văn Thảo (1996) và Nguyễn Văn Thắng (2011), cùng lý thuyết biến tính của khối không khí cực đới khi di chuyển xuống phía nam gặp địa hình chắn của dãy Trường Sơn (Trần Công Minh, 2003, 2007).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp mô hình số trị: Sử dụng mô hình nghiên cứu và dự báo thời tiết WRF (Advanced Research WRF - WRF-ARW). Trong mô hình, tác giả áp dụng phương pháp ban đầu hóa xoáy động lực học và phương pháp dịch chuyển xoáy để khắc phục nhược điểm trường phân tích toàn cầu thường làm mịn hoặc định vị sai lệch tâm bão. Tác giả khảo sát các sơ đồ tham số hóa vi vật lý mây (MP), đối lưu (Kain-Fritsch - KF, Betts-Miller-Janjic - BMJ, Grell-Devenyi - GD) và lớp biên hành tinh (PBL).
  • Phương pháp phân tích Sy nốp: Phân tích các bản đồ thời tiết, trường đường dòng, áp cao lạnh Siberia, dải hội tụ nhiệt đới và rãnh gió mùa ở các mực 850 hPa, 500 hPa và mực mặt biển nhằm nhận diện các hình thế tương tác giữa bão và không khí lạnh.
  • Phương pháp thống kê: Đánh giá sai số dự báo quỹ đạo (khoảng cách tâm bão) và cường độ (khí áp cực tiểu tại tâm, tốc độ gió cực đại) thông qua sai số trung bình (ME) và sai số trung bình tuyệt đối (MAE) trên chuỗi 228 thí nghiệm mô phỏng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu:

  • Dữ liệu khí tượng toàn cầu: Số liệu phân tích và dự báo GFS của NCEP (Hoa Kỳ) và GSM của JMA (Nhật Bản).
  • Dữ liệu viễn thám: Ảnh mây vệ tinh kênh thị phổ (VIS), hồng ngoại (IR), vi sóng kênh 89H; ảnh radar Doppler với trường độ phản hồi vô tuyến (đơn vị dBZ).
  • Dữ liệu quan trắc quỹ đạo và cường độ: Số liệu best-track từ Trung tâm Cảnh báo bão Liên hợp Hải quân Hoa Kỳ (JTWC), Cơ quan Khí tượng Nhật Bản (JMA) và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia (NCHMF).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của địa hình, không khí lạnh đến cấu trúc bão

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa cơ sở lý thuyết bão và tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Luận giải các khái niệm, phân loại xoáy thuận nhiệt đới theo thang Beaufort và Quyết định 44/2014/QĐ-TTg, cùng các điều kiện hình thành bão theo quan điểm của Riehl, Palmén và Gray.
  • Phân tích chi tiết cấu trúc đối xứng của bão (lõi nóng xuất hiện mạnh nhất ở tầng đối lưu trên, vận tốc gió tiếp tuyến cực đại ở mực thấp tuân theo phân bố chuẩn loga của Holland, profile gió xuyên tâm vùng lõi theo lý thuyết Emanuel và Rotunno 2011). Phân tích cấu trúc mắt bão (vùng quang mây, dòng giáng yếu, khí áp cực tiểu như kỷ lục 870 hPa của siêu bão Tip năm 1979), thành mắt bão với chu trình thay thế thành mắt bão đồng tâm (eyewall replacement cycle) và các xoáy quy mô nhỏ hình thành do đứt gió thẳng đứng tạo nên mắt bão hình đa giác.
  • Tổng quan các cơ chế tương tác giữa bão với địa hình núi cao và đường bờ biển từ các nghiên cứu quốc tế (chương trình ITCLP, CLAYTEX, các nghiên cứu tại Đài Loan và bờ biển Trung Quốc).
  • Tổng thuật các nghiên cứu tại Việt Nam về đặc điểm bão Biển Đông, hướng di chuyển trung bình theo Atlas của Mai Văn Khiêm (2015), và sự kết hợp giữa hoàn lưu bão với không khí lạnh (trung bình 33 đợt/năm theo Nguyễn Vũ Thi). Tổng kết các phương án ban đầu hóa xoáy và đồng hóa dữ liệu bão trên mô hình MM5 và WRF của các nhóm nghiên cứu trong nước.

Chương 2: Số liệu và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày nguồn số liệu và quy trình thiết kế các thử nghiệm số trị:

  • Lựa chọn 18 cơn bão hoạt động trên Biển Đông trong giai đoạn 2014–2018 (trong đó có các cơn bão tiêu biểu như Kalmaegi, Mujigae, Wutip, Damrey, Usagi) với chuỗi số liệu quan trắc và điều kiện biên tại các mốc 00UTC và 12UTC.
  • Thiết lập mô hình WRF với miền tính lồng ghép, cấu hình các sơ đồ vật lý phù hợp với khu vực Biển Đông và duyên hải Việt Nam.
  • Thiết lập quy trình ban đầu hóa xoáy động lực học và kỹ thuật dịch chuyển xoáy nhằm tạo ra xoáy bão ban đầu có cường độ, kích thước và cấu trúc lõi nóng phù hợp với quan trắc thực tế trước khi tích phân mô hình.
  • Thiết kế hệ thống 228 thí nghiệm mô phỏng, bao gồm các kịch bản thử nghiệm độ nhạy địa hình đối với các cơn bão đổ bộ:
    • Kịch bản CTL: Thí nghiệm kiểm chứng, giữ nguyên độ cao địa hình thực tế mặc định trong mô hình WRF.
    • Kịch bản TER2m: Giảm toàn bộ độ cao địa hình miền tính xuống mức 2 mét (loại bỏ hoàn toàn tác động nâng cao của địa hình).
    • Kịch bản TER50: Giảm 50% độ cao địa hình thực tế.
    • Kịch bản TER75: Giảm 75% độ cao địa hình thực tế.
    • Kịch bản TER150: Tăng 150% độ cao địa hình thực tế (khuếch đại cưỡng bức địa hình).

Chương 3: Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của địa hình, không khí lạnh đến cấu trúc bão

Nội dung chương trình bày các phát hiện rút ra từ 228 thí nghiệm số trị:

  • Nâng cao chất lượng trường ban đầu bằng ban đầu hóa xoáy: Thử nghiệm trên các ca bão điển hình (như bão Damrey 2017 tại mốc 00Z ngày 03/11/2017 và bão Mujigae 2015 tại mốc 00Z ngày 03/10/2015) cho thấy việc áp dụng ban đầu hóa xoáy giúp tái lập được cấu trúc lõi nóng rõ nét ở tầng đối lưu trên, trường gió mực 10m và khí áp bề mặt biển sát với quan trắc của JTWC và JMA, khắc phục hiện tượng xoáy ban đầu quá yếu và lan tỏa rộng khi không ban đầu hóa xoáy. Trường phản hồi vô tuyến ban đầu phù hợp với ảnh mây vi sóng kênh 89H. Sai số khí áp cực tiểu tại tâm và vị trí tâm bão giảm rõ rệt qua các vòng lặp.
  • Vai trò của địa hình đối với cấu trúc bão:
    • Cấu trúc trường mây và phản hồi vô tuyến: Khảo sát trường hợp bão Damrey (2017) tại các thời điểm 3 giờ trước đổ bộ, lúc đổ bộ và 3 giờ sau đổ bộ. Khi địa hình giữ nguyên (CTL) hoặc tăng cao (TER150), đới mây đối lưu mạnh ở sườn đón gió bị kích động thăng cưỡng bức, phá vỡ cấu trúc đối xứng vòng tròn của thành mắt bão; vùng phản hồi vô tuyến cực đại (> 40–45 dBZ) tập trung dồn về phía trước tâm bão tiếp xúc với địa hình. Ngược lại, ở kịch bản TER2m, hoàn lưu mây duy trì dạng xoắn ốc đối xứng lâu hơn ngay cả khi tâm bão đã đi vào đất liền.
    • Cường độ bão: Biến trình vận tốc gió cực đại tại độ cao 10m và khí áp cực tiểu tại tâm cho thấy địa hình càng cao (TER150) thì ma sát bề mặt càng lớn, làm tiêu tán động năng nhanh chóng, tốc độ gió suy giảm đột ngột ngay khi tiếp cận bờ. Ở kịch bản TER2m, bão duy trì cường độ gió mạnh và khí áp thấp sâu hơn trong thời gian dài sau thời điểm đổ bộ.
    • Quỹ đạo bão: Độ cao địa hình tạo ra lực cản và sự bất đối xứng trong trường dòng dẫn mực thấp, làm lệch hướng di chuyển của bão khi tiến sát bờ (thể hiện rõ trên quỹ đạo mô phỏng các cơn bão Kalmaegi, Mujigae, Wutip, Damrey và Usagi giữa các kịch bản CTL, TER2m, TER50, TER75 và TER150).
  • Vai trò của không khí lạnh đối với cấu trúc bão:
    • Cấu trúc xoáy tích hợp 18 cơn bão: So sánh cấu trúc trung bình của các cơn bão chịu tác động của không khí lạnh với nhóm không chịu tác động cho thấy: không khí lạnh làm tăng mạnh gradient áp và tốc độ gió mực 10m ở nửa phía bắc hoàn lưu bão; làm biến dạng trường gió vĩ hướng và kinh hướng; đồng thời trường tỉ số xáo trộn nước mưa tại mực bề mặt (kg/kg) bị kéo giãn lệch hẳn về phía bắc và tây bắc tâm bão.
    • Trường hợp điển hình bão Damrey (2017) và bão Mujigae (2015): Phân tích synop và mặt cắt thẳng đứng đông - tây, nam - bắc qua tâm bão cho thấy không khí lạnh xâm nhập vào rìa bắc hoàn lưu bão dưới dạng nêm lạnh mực thấp, tạo ra vùng hội tụ nhiệt ẩm mạnh mẽ giữa đới gió đông bắc lạnh và dòng thổi ẩm nhiệt đới, gây gia tăng tỉ số xáo trộn ngưng kết, kích động đối lưu sâu và hình thành dải phản hồi vô tuyến mạnh lệch tâm ở hạn dự báo 6 giờ, 12 giờ và 24 giờ.

Bảng tổng hợp thiết kế các kịch bản thí nghiệm địa hình và các ca nghiên cứu tiêu biểu trong luận án:

Kịch bản / Ca bão Thiết lập mô phỏng Mục tiêu đánh giá Kết quả chính
CTL Giữ nguyên độ cao địa hình thực tế mặc định Thí nghiệm kiểm chứng (control run) cho 18 cơn bão Mô phỏng sát diễn biến bão thực tế, làm mốc so sánh độ nhạy.
TER2m Giảm độ cao địa hình miền tính xuống 2m Khảo sát trạng thái bão khi không có ma sát và nâng cưỡng bức địa hình Bão suy yếu chậm hơn, cấu trúc trường mây và gió duy trì tính đối xứng lâu hơn sau đổ bộ.
TER50 Giảm 50% độ cao địa hình thực tế Đánh giá phản ứng tuyến tính/phi tuyến của xoáy bão Tốc độ suy giảm gió cực đại và độ lệch quỹ đạo ở mức trung gian giữa CTL và TER2m.
TER75 Giảm 75% độ cao địa hình thực tế Đánh giá mức độ nhạy cảm của hoàn lưu bão với địa hình thấp Cấu trúc đối xứng được bảo toàn tốt hơn kịch bản CTL; giảm mức độ tập trung mưa ở sườn đón gió.
TER150 Tăng 150% độ cao địa hình thực tế Đánh giá tác động cực hạn của ma sát và chắn địa hình cao Bão suy giảm cường độ rất nhanh khi tiếp cận bờ; đối lưu và mưa cưỡng bức tăng đột biến ở sườn đông.
Bão Damrey (2017) Mô phỏng tại mốc 00Z ngày 03/11/2017 đến đổ bộ 00Z ngày 04/11/2017 Khảo sát kết hợp ban đầu hóa xoáy, độ nhạy địa hình và tương tác không khí lạnh Làm rõ cấu trúc nêm lạnh làm lệch trường gió mạnh lên phía bắc; địa hình làm tan vỡ thành mắt bão lúc đổ bộ.
Bão Mujigae (2015) Mô phỏng chuỗi 12Z 03/10, 18Z 03/10, 00Z 04/10 và 06Z 04/10/2015 Đánh giá tương tác synop giữa bão và đợt không khí lạnh tăng cường Xác lập mặt cắt thẳng đứng đông - tây và nam - bắc của trường tốc độ gió và tỉ số xáo trộn ngưng kết bất đối xứng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tự nêu hai đóng góp mới chủ yếu về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Về ảnh hưởng của địa hình: Luận án làm rõ hơn cơ chế và biểu hiện sự ảnh hưởng của địa hình Việt Nam tới cấu trúc các trường mây, gió, phân bố lượng mưa và sự lệch hướng của quỹ đạo khi bão di chuyển vào gần bờ và đổ bộ. Địa hình đóng vai trò làm biến dạng cấu trúc đối xứng ban đầu của xoáy bão, gia tăng tốc độ tiêu tán động năng do ma sát bề mặt và cưỡng bức hội tụ tạo tâm mưa lớn tại sườn đón gió.
  2. Về ảnh hưởng của không khí lạnh: Luận án làm rõ hơn cơ chế và biểu hiện sự ảnh hưởng của không khí lạnh đến cấu trúc trường mây, phân bố lượng mưa và gió mạnh trong các cơn bão hoạt động trên khu vực Biển Đông Việt Nam. Sự xâm nhập của không khí lạnh làm tăng gradient khí áp ở rìa phía bắc, làm lệch tâm đối lưu và tái phân bố trường ẩm bề mặt.

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn cùng các kiến nghị, giải pháp đề xuất:

  • Về ý nghĩa khoa học: Cung cấp thêm luận cứ và chứng cứ mô phỏng số trị về vai trò của độ cao địa hình và không khí lạnh lên cấu trúc các trường khí tượng trong bão, góp phần hoàn thiện hiểu biết lý thuyết về bão đổ bộ vùng bờ biển có địa hình phức tạp kết hợp gió mùa mùa đông.
  • Về ý nghĩa thực tiễn và giải pháp: Kết quả nghiên cứu làm cơ sở khoa học để xác định cụ thể các khu vực bão đổ bộ có nguy cơ xuất hiện mưa lớn và gió mạnh bất thường do tác động kết hợp của địa hình và không khí lạnh. Tác giả đề xuất việc ứng dụng sơ đồ ban đầu hóa xoáy động lực học trong mô hình WRF vào quy trình nghiệp vụ dự báo bão hạn ngắn tại Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia nhằm nâng cao chất lượng dự báo quỹ đạo và cường độ bão, phục vụ công tác chỉ đạo phòng chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu thực nghiệm tập trung trong giai đoạn 2014–2018 với 18 cơn bão được lựa chọn, chưa bao quát toàn bộ các kịch bản tương tác đa dạng trong lịch sử bão Biển Đông.
  • Phạm vi không gian giới hạn ở khu vực Biển Đông và vùng duyên hải Việt Nam, chịu sự chi phối của địa hình dải Trường Sơn và vùng ven biển nhiệt đới gió mùa.
  • Các mô phỏng số trị phụ thuộc vào độ chính xác của trường phân tích/dự báo toàn cầu (GFS, GSM) dùng làm điều kiện ban đầu và điều kiện biên, cũng như sự nhạy cảm nội tại của các sơ đồ tham số hóa vi vật lý mây và đối lưu trong mô hình WRF.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng tập mẫu nghiên cứu cho các cơn bão trong các năm tiếp theo nhằm tăng cường ý nghĩa thống kê.
  • Tiếp tục thử nghiệm kết hợp ban đầu hóa xoáy với các phương pháp đồng hóa số liệu tiên tiến (như 3D-VAR, 4D-VAR hoặc lọc Kalman tổ hợp LETKF) tích hợp đồng thời số liệu thám sát radar Doppler ven biển, gió vệ tinh và thám không để cải thiện hơn nữa trường ban đầu mô hình.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Khí tượng học, Khí hậu học, Hải dương học và Thủy văn: Có thể tham khảo phương pháp thiết kế thí nghiệm số trị độ nhạy địa hình (Chương 2 và Chương 3), kỹ thuật ban đầu hóa xoáy động lực học trong mô hình WRF, cùng hệ thống tổng thuật tài liệu lý thuyết bão chuyên sâu (Chương 1).
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành: Cung cấp tư liệu chi tiết về mặt cắt cấu trúc thẳng đứng của trường gió, nhiệt độ thế vị, tỉ số xáo trộn ngưng kết và độ phản hồi vô tuyến trong bão nhiệt đới khi tương tác với nêm lạnh.
  • Dự báo viên và các nhà hoạch định chính sách phòng chống thiên tai: Cung cấp cơ sở khoa học nhận định trước các khu vực tập trung gió giật mạnh ở rìa bắc bão và các vùng hội tụ mưa cực đoan ven biển khi có bão kết hợp không khí lạnh đổ bộ vào dải duyên hải Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án sử dụng căn cứ pháp lý nào để phân loại xoáy thuận nhiệt đới và các cấp gió tương ứng?
Luận án căn cứ theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg ngày 15/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về dự báo, cảnh báo và truyền tin thiên tai. Theo đó, xoáy thuận nhiệt đới được phân thành năm cấp: Áp thấp nhiệt đới (gió cấp 6–7, 10,8–17,1 m/s), Bão (gió cấp 8–9, 17,2–24,4 m/s), Bão mạnh (gió cấp 10–11, 24,5–32,6 m/s), Bão rất mạnh (gió cấp 12–15, 32,7–50,9 m/s) và Siêu bão (từ cấp 16 trở lên, ≥ 51,0 m/s).

2. Phương pháp ban đầu hóa xoáy trong mô hình WRF giải quyết nhược điểm gì của trường số liệu ban đầu?
Trường phân tích toàn cầu thông thường (như GFS hay GSM) thường làm mịn cấu trúc bão hoặc định vị sai lệch tâm bão do độ phân giải thấp và thiếu số liệu quan trắc trên biển. Phương pháp ban đầu hóa xoáy động lực học và dịch chuyển xoáy giúp bổ sung một cấu trúc xoáy thực tế (có trường gió mực 10m, khí áp tâm và cấu trúc lõi nóng phù hợp quan trắc), giúp giảm đáng kể sai số dự báo quỹ đạo và cường độ bão trong 24 giờ đầu tích phân mô hình.

3. Thí nghiệm độ nhạy địa hình của luận án được thiết kế gồm những kịch bản nào?
Luận án thiết kế năm kịch bản độ cao địa hình miền tính trong mô hình WRF gồm: CTL (giữ nguyên độ cao thực tế mặc định), TER2m (giảm toàn bộ độ cao địa hình về 2 mét), TER50 (giảm 50% độ cao), TER75 (giảm 75% độ cao) và TER150 (tăng 150% độ cao địa hình).

4. Khi không khí lạnh xâm nhập vào hoàn lưu bão trên Biển Đông, cấu trúc trường gió và trường mưa biến đổi ra sao?
Không khí lạnh xâm nhập vào tầng thấp làm gia tăng gradient khí áp ở rìa phía bắc bão, mở rộng phạm vi và tăng cường độ gió mạnh tại nửa phía bắc hoàn lưu bão. Đồng thời, sự tương tác nhiệt ẩm giữa khối không khí lạnh khô và dòng ẩm nhiệt đới làm méo mó tính đối xứng, kéo dải mây đối lưu sâu và tỉ số xáo trộn nước mưa bề mặt tập trung lệch hẳn về phía bắc và tây bắc của tâm bão.

5. Hai trường hợp bão điển hình nào được phân tích chi tiết trong Chương 3 để minh chứng cho tác động của không khí lạnh và địa hình?
Luận án lựa chọn phân tích chi tiết trường hợp bão Damrey năm 2017 (thời điểm từ 00Z ngày 03/11/2017 đến lúc đổ bộ 00Z ngày 04/11/2017) và bão Mujigae năm 2015 (chuỗi thời điểm 12Z ngày 03/10 đến 06Z ngày 04/10/2015) qua các mặt cắt thẳng đứng đông - tây, nam - bắc của trường gió, tỉ số xáo trộn ngưng kết và bản đồ độ phản hồi vô tuyến.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Bình Phong là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Khí tượng và Khí hậu học, tập trung giải quyết bài toán tương tác giữa hoàn lưu bão với địa hình duyên hải Việt Nam và không khí lạnh trên Biển Đông giai đoạn 2014–2018. Thông qua phương pháp ban đầu hóa xoáy động lực học trên mô hình WRF kết hợp 228 thí nghiệm mô phỏng số trị, luận án đã làm rõ cơ chế biến đổi từ cấu trúc đối xứng sang bất đối xứng của trường gió, trường mây, phân bố lượng mưa và sự lệch hướng quỹ đạo khi bão đổ bộ. Các kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học tin cậy góp phần nâng cao chất lượng dự báo bão nghiệp vụ và hỗ trợ công tác phòng chống giảm nhẹ thiên tai tại Việt Nam.