Mở đầu Nêu lý do chọn đề tài đồng thời đề ra mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu va cau trúc của đề tài Chương 2. Tổng quan Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và ngoài nước. Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày các cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu dé tài bao gôm các khái niệm, lý thuyết nền và các mô hình dé xuất.
Nêu các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài cụ thé là: Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp xử lý số liệu, phương pháp phân tích số liệu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày các kết quả có được từ nghiên cứu gồm: - Phân tích một số chỉ tiêu quan trọng trên báo cáo tài chính. - Thực trang minh bach báo cáo tài chính các công ty nganh tiện ích niệm yết tại Việt Nam. - Tác động của nhân tố đa dạng giới tới sự minh bạch báo cáo tài chính.
- Giải pháp và kiến nghị. Kết luận và kiến nghị Tổng hợp đánh giá lại nội dung nghiên cứu, nêu ra nhận xét từ kết quả nghiên cứu, những lưu ý khi sử dụng nghiên cứu. Từ đó đưa ra những kết luận, kiến nghị đối Với các cơ quan có thâm quyên, các công ty kiêm toán và các công ty đại chúng niêm yết tại Việt Nam. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.
Tống quan nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài 2. Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới đã có rất nhiều các tài liệu nghiên cứu về sự minh bạch thông tin tài chính. Đầu tiên, Meek & Saudagara (1990); Saudagaran & Meek (1997) hay Zarzeski (1996) nghiên cứu xuyên quốc gia về minh bạch thông tin. Trong đó, kết quả nghiên cứu của Zarzeski (1996) trích trong nghiên cứu cua Jeffrey J.
Archembault va Marie e. Archambault (2003) chỉ ra rằng mức độ công bồ thông tin phụ thuộc vào văn hóa và sức mạnh của thị trường thông qua các yếu tố như doanh thu xuất khâu, đòn bay tài chính và quy mô công ty. Nghiên cứu được thực hiện trên 7 quốc gia với 256 công ty có quy mô nhỏ, vừa và lớn. Chueng và cộng sự (2005) đã sử dung bảng khảo sát được thiết kế dựa trên nguyên tắc quản trị của tổ chức Hop tác và Phát triển Kinh tế (OECD) do Học viện Hiệp hội các giám đốc của Thái Lan thực hiện.
Bảng câu hỏi xây dựng từ các nguyên tắc quản trị của OECD cũng được Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) sử dụng phan đánh giá mức độ công bố và minh bạch thông tin của các công ty cô phan đại chúng thuộc các chương trình tư vấn đánh giá thẻ điểm quản trị công ty của Ngân hàng Thế giới tại châu A. Nghiên cứu tiếp theo của Yu-Chih-Lin và cộng sự (2007) đã dựa trên chỉ số Hệ thong xếp hạng về sự minh bach và công bố thông tin — hệ thống xếp hạng công bố và minh bạch thông tin (ITDRS) dé đánh giá mức độ minh bach thông tin của các công ty niêm yết. Đây là chỉ số đánh giá xếp hạng sự minh bạch và công bố, thông tin của các công ty niêm yết được xây dựng ở Đài Loan. Chỉ số này bao gồm 88 khoản mục công bố được phân chia thành 5 nội dung.
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với các nhân tô khác. Điển hình như: Almazan và cộng sự (2002) đã công bồ công trình “Stakecholders, capital structure and stransparency”. Công trình này đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tính minh bạch thông tin với cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và chỉ ra rằng mức độ minh bạch thông tin càng cao thì các doanh nghiệp có xu hướng lựa chọn cơ cau vốn an toàn hơn. Tiếp theo là nghiên cứu của Robert M.
Bushman và Abbie J. Smith (2003) với bài báo “Transpareney, Financial Accounting Information, and Corporate Governance” ( Economic Policy Review), nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin, đặc biệt là thông tin từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán và vấn đề quản trị công ty. Trong nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra các tiêu chí dé đánh giá mức độ minh bạch thông tin của doanh nghiệp. Cuối cùng là Assaf Razin, Efraim Sadka (2004), với nghiên cứu “Transparency, Specialization and FDI” đã phân tích mối quan hệ giữa minh bạch thông tin và sự phát triển của đầu tư trực tiếp từ nước ngoài.
Nghiên cứu này chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ minh bạch thông tin kém thì dòng chảy FDI cũng suy giảm. Cũng đã có các bài nghiên cứu liên quan tới giới tính trong doanh nghiệp ảnh hướng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh, hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu của Kramer và cộng sự (2006) dựa trên lí thuyết tới han (critical mass theory) cho thay, ảnh hưởng của nữ giới trong hội đồng quan trị sé trở nên mạnh mẽ hon khi số lượng nữ giới vượt qua mức 3 (ba phụ nữ trở lên). Kramer và cộng sự giải thích rằng số lượng nữ giới cao trong hội đồng quản trị có thể tạo nên sự khác biệt đáng kể.
Nghiên cứu của Gulzar & Wang (2011), Lakhal và cộng sự (2015), Gavious và cộng sự (2012), Man & Wong (2013), Arun & cộng sự, Kyaw và cộng sự (2015) đều cho thay méi tương quan nghich chiéu giữa số lượng phụ nữa với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu của Zelechowski và Bilimoria (2004) về sự đa dạng giới tính trong HDQT cho rằng nam thành viên trong HDQT thường có kỹ năng quản lý không tốt bằng nữ khi xử lý những vấn đề có liên quan đến giao tiếp, truyền thông, nguồn nhân lực và tiếp thị. Cũng như trong nghiên cứu của Srinidhi và cộng sự (2011); nghiên cứu của Thiruvadi và Huang (2011) cho rằng số lượng thành viên nữ trong HDQT càng nhiều thì chất lượng báo cáo sẽ càng cao. Hơn nữa, những đề tài về nữ giới càng được quan 6 tâm nhiều hơn trên những quốc gia khác trên thế giới.
Đa số những nghiên cứu đều cho rằng khi nữ giới có mặt trong vị trí điều hành giúp doanh nghiệp được hoạt động hiệu quả hơn, điều này càng cho thấy việc nữ giới đang dần đóng vai trò quan trọng hơn trong mỗi doanh nghiệp. Tổng quan nghiên cứu ở trong nước Đã có rất nhiêu nghiên cứu liên quan tới minh bạch báo cáo tài chính. Nhưng các nghiên cứu trước đây chỉ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch báo cáo tài chính bằng cách phân tích tổng quan các nhân tô chứ không nhằm vào một nhân tổ cụ thể nào và chủ yêu sử dụng phương pháp định tính, đã có một số nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhưng các yếu tố ảnh hưởng còn mang tính rời rạc. Tại Việt Nam, công trình nghiên cứu về hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin của tác giả Nguyễn Đình Hùng (2010) đã xác định mối quan hệ và cơ chế hoạt động của hệ thống kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính.
Năm 2015, trong nghiên cứu của tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh đã đề xuất mô hình nghiên cứu gồm có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ minh bạch TTTC của các công ty niêm yết là nhóm nhân tổ tài chính và nhóm nhân tố quản trị với 8 biến đọc lập. Kết qua cho thấy, các nhân tô phản ảnh đặc điểm tài chính và quan trị doanh nghiệp như: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toan và cơ cấu HDQT ảnh hưởng tới mức độ minh bạch TTTC của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả đã sử dụng kết hợp cả 2 phương pháp định tính và định lượng để kiểm định được các nhân tô ảnh hưởng cũng như mức độ ảnh hưởng của nó đến tính minh bach của TTTC các công ty niêm yết. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Nga (2014) đã tiễn hành chọn ngẫu nhiên 155 đối tượng là kế toán trưởng, kế toán viên, giám đốc, phó giám đốc trong 52 doanh nghiệp dé khảo sát thông qua hình thức phát phiếu khảo sát trực tiếp.
Thông qua ảnh hưởng của hai biến độc lập là nhân sự kế toán và nhà quản lý, nghiên cứu cho thấy 2 biến nay ảnh hưởng đáng ké đến chất lượng thông tin kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam. Kết luận và khoảng trống nghiên cứu Kết luận: Từ tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài cho thấy việc nghiên cứu sự minh bạch trong báo cáo tài chính và sự đa dạng giới trong doanh nghiệp là một đủ đề đã được nhiều tác giả quan tâm từ trước cho đến nay. Từ các nghiên cứu được tóm lược ở trên có thé thay sự minh bạch báo cáo tài chính bị ảnh hưởng mới các nhân tố:tài chính, quản trị, nhân sự, quy mô, hệ thống chuẩn mực kế toán. Khoảng trống nghiên cứu: Đã có nhiều nghiên cứu về sự minh bạch của BCTC hoặc là ảnh hưởng của đa dạng giới tới doanh nghiệp.
Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào kết hợp ca hai van đề trên. Và các nghiên cứu trước đây chi phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch báo cáo tài chính bang cách phân tích tổng quan các nhân tố chứ không nhằm vào một nhân tố cụ thé nao và chủ yếu sử dụng phương pháp định tính, đã có một số nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng nhưng các yếu tố ảnh hưởng còn mang tính rời rạc. Ví dụ như ở nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng (2010), tác giả mới đừng lại ở việc thống kê mô tả của các biến đại diện đó mà chưa thé hiện mối quan hệ giữa các nhân tố nghiên cứu cũng như xác định được mức độ anh hưởng của các nhân tố đó đến sự minh bạch thông tin, và tác giả chủ yêu sử dụng phương pháp định tính để biện luận cho kết quả của mình. Tổng quan về Sàn Giao dịch Chứng khoán Việt Nam 2.
Khái niệm và tổng quan Sản giao dịch chứng là địa điểm tập trung giao dịch mua bán các sản phẩm chứng khoán như cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ. Day là nơi người mua và bán gặp gỡ, trao đổi sản phâm chứng khoán phù hợp với các quy định của pháp luật. Ngoài chức năng giao dịch, sàn chứng khoán còn cung cấp nhiều thông tin liên quan đến lich sử giá cả giao động trong mã cô phiếu của từng công ty. Thông qua lịch sử giao động mã cô phiếu, nhà đầu tư có thé phân tích tình hình giao dịch trên thị trường và những đợt tăng giá.
Điều này giúp nhà đầu tư định hướng và đầu tư hiệu quả với những mã cô phiếu có trên sàn chứng khoán.