MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm gần đây, cả thế giới đang gánh chịu ảnh hưởng của dịch bệnh covid 19, dịch bệnh không chỉ khiến nền kinh tế của thế giới bị ảnh hưởng mà bên cạnh đó vấn đề môi trường cũng có những thay đổi rõ rệt như môi trường đất, nước, không khí. Tại Việt Nam, theo Tổng cục Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2020) cho biết, so sánh kết quả quan trắc chất lượng không khí tại các đô thị miền Bắc từ tháng 1-4/2020, trong đó có thời gian thực hiện cách ly xã hội cho thấy, sự thay đổi các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của con người là nguyên nhân quan trọng làm thay đổi chất lượng không khí. So với cùng thời gian của những năm trước, chất lượng không khí cũng có xu hướng được cải thiện hơn.
Điều này cho thấy ảnh hưởng của các nguồn phát thải như giao thông và hoạt động sản xuất có tác động đáng kể đến chất lượng không khí đô thị. Các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng nên hoạt động du lịch bị ngưng lại, bãi biển trở nên vắng người, sạch hơn, rác thải ở các điểm du lịch cũng giảm mạnh. Tiếng ồn ở đô thị và các điểm công cộng cũng giảm do người dân không được tập trung, hoạt động buôn bán bị dừng lại, xe cộ bị hạn chế lưu thông. Tuy nhiên, chất thải ra môi trường gia tăng làm ô nhiễm môi trường đất, nước, đặc biệt là môi trường nước.
Hà Nội, thủ đô của Việt Nam là một trong những nơi chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch bệnh. Ban chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch của thành phố đã có những biện pháp ứng phó và ngăn ngừa dịch bệnh Covid 19 hiệu quả, nhờ sự ngăn ngừa hiệu quả đó nên thủ đô đã dần trở về trạng thái bình thường mới khi các hoạt động kinh doanh dịch vụ đang dần được quay trở lại để mở cửa phục vụ cho nhu cầu của người dân. Vấn đề ô nhiễm môi trường ở Hà Nội như là ô nhiễm không khí hay ô nhiễm nước mặt vẫn là vấn đề nóng luôn được quan tâm, tuy nhiên nhờ dịch bệnh Covid 19 ta thấy rằng chất lượng không 1 khí đã cải thiện đáng kể và rõ rệt khi thành phố áp dụng các chỉ thị 16, 16+ hoạt động di chuyển của người dân giảm, bên cạnh sự chuyển biến tích cực của chất lượng không khí thì hoạt động sinh hoạt trong thời gian cách ly giãn cách của người dân tăng cao dẫn đến việc sử dụng nước cho sinh hoạt và phát sinh chất thải cũng bị biến động. Trước tình hình đó, để đánh giá được chất lượng nước sông Hồng trên địa bàn Thành phố Hà Nội có bị ảnh hưởng hay không? tôi đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid 19 đến chất lượng nước sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà Nội” qua các thông số đánh giá chất lượng nước mặt để thấy được sự chênh lệch, qua đó đánh giá được hiện trạng chất lượng nước sông đó đang như thế nào? và đề xuất phương pháp xử lý.
Mục tiêu nghiên cứu Đánh giá ảnh hưởng chất lượng nước sông Hồng trên địa bàn thành phố Hà Nội trước và sau khi có dịch Covid 19. 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Hiện trạng dịch Covid 19 ở Việt Nam Vào ngày 23 tháng 1 năm 2020, trường hợp đầu tiên mắc COVID-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra được xác nhận tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam. Xã hội, kinh tế bị tác động bởi đại dịch do ảnh hưởng của việc di chuyển.
(Theo Coleman, Justine) Trong năm 2020, Việt Nam đã kiểm soát khá tốt dịch bệnh với tổng số ca tử vong xác nhận cả năm là 35. Tuy nhiên, sang đến năm 2021, tình hình dịch bệnh đã trở nên trầm trọng hơn với số ca mắc COVID-19 cùng với số ca tử vong tăng đột biến. Đại dịch COVID-19 đã lan ra toàn bộ 63 tỉnh, thành tại Việt Nam. Việt Nam, quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19.
Theo unicef (tổ chức y tế thế giới WHO) tính đến ngày 30/11/2021 Việt Nam ghi nhận 1.082, số ca tử vong: 25.252, Trong đó riêng thủ đô Hà Nội ghi nhận 24.409 ca, số ca tử vong 67. (Theo cổng thông tin của bộ Y tế của Việt Nam về dịch COVID 19) Covid 19 đã ảnh hưởng đến nền kinh kế của Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2020 tăng 2,91% so với năm trước, tuy là mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020 nhưng trong bối cảnh dịch Covid-19 năm 2020 diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực tới mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội thì đây là thành công lớn của Việt Nam với mức tăng trưởng năm 2020 thuộc nhóm cao nhất thế giới. Điều này cho thấy tính đúng đắn trong chỉ đạo, điều hành khôi phục kinh tế, phòng chống dịch bệnh và sự quyết tâm, đồng lòng của toàn bộ hệ thống chính trị, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, sự nỗ lực, cố gắng của người dân và cộng đồng doanh nghiệp để thực hiện hiệu quả mục tiêu “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế - xã hội”.
Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,68%, đóng góp 13,5% vào tốc độ tăng 3 tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,98% (cao nhất trong số 3 khu vực kinh tế) đóng góp 53%; khu vực dịch vụ tăng 2,34%, đóng góp 33,5%. Chín tháng năm 2021, dịch Covid-19 ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, đợt dịch kéo dài từ tháng 7 đến nay tại các tỉnh Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Hà Nội phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 trong thời gian dài đã ảnh hưởng đến kết quả tăng trưởng kinh tế (GDP) cả nước, theo đó, GDP quý III/2021 có mức giảm sâu nhất kể từ khi tính và công bố GDP theo quý tại Việt Nam. GDP quý III/2021 giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngoại trừ khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt tăng trưởng dương 1,04% nhưng vẫn rất thấp trong 10 năm qua (chỉ cao hơn mức tăng trưởng 0,97% của 9 tháng năm 2016); Khu vực công nghiệp và xây dựng, Khu vực dịch vụ đều giảm lần lượt là 5,02% và 9,28%.
Mặc dù GDP quý III/2021 giảm sâu nhưng tính chung 9 tháng, tăng trưởng GDP vẫn đạt 1,42% so với cùng kỳ năm trước; trong đó ngoài khu vực dịch vụ giảm 0,69% thì khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, khu vực dịch vụ vẫn đạt tăng trưởng dương lần lượt là 2,74% và 3,57% nhưng đều thấp hơn so với kỳ vọng. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng thấp (+1,04%) trong quý III/2021 do ảnh hưởng giãn cách xã hội kéo dài đã ảnh hưởng lớn đến sản xuất, thu hoạch, tiêu thụ nông sản. Đặc biệt là nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng sông Cửu Long khi đến hơn 90% sản lượng cá tra và tôm nước lợ tập trung tại vùng này. Sản lượng thủy sản nuôi trồng cả nước quý III/2021 giảm 8,8%, trong đó cá tra giảm gần 20% và tôm giảm 5,2%.
Khu vực công nghiệp và xây dựng suy giảm ở hầu hết các ngành trong quý III, trong đó giảm mạnh nhất là ngành xây dựng và khai khoáng với mức giảm lần lượt là 11,41% và 8,25%. Đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo luôn giữ vai trò là động lực tăng trưởng của nền kinh tế thì sang quý III giảm 3,24%; 4 Khu vực dịch vụ quý III/2021 giảm kỷ lục do thời gian giãn xã hội cách kéo dài (giảm 9,28%). Trong đó, ngành dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm 54,8% (20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16 chiếm 63% ngành dịch vụ cả nước); vận tải kho bãi giảm 21,1%; bán buôn, bán lẻ giảm gần 20%. Tuy nhiên trong quý III/2021 một số ngành đạt mức tăng trưởng dương, đặc biệt ngành Y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng rất cao 38,7% do dồn sức chống dịch; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,1% do tăng trưởng tín dụng đạt tốt; hoạt động thông tin và truyền thông tăng 5,3% với sản lượng chủ yếu phục vụ công tác phòng chống dịch và hoạt động quản lý của các cơ quan nhà nước, học tập của học sinh, sinh viên v.
Ảnh hưởng của dịch Covid 19 đến thành phố Hà Nội Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) Thành phố Hà Nội giai đoạn 2016 - 2019 trung bình tăng 7,38%/năm - trong khung kế hoạch 5 năm 2016 - 2020; trung bình 5 năm 2016 - 2020 tăng 6,73%/năm. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, GRDP tăng 4,18%. Đại hội lần thứ XVII của Đảng bộ Thành phố Hà Nội đã quyết nghị chỉ tiêu tăng trưởng GRDP giai đoạn 2021 - 2025 từ 7,5 - 8,0%. Kế hoạch năm 2021 đề ra mục tiêu tăng trưởng GRDP khoảng 7,5%.
Nhìn chung, năm 2020, kinh tế Thành phố Hà Nội vẫn duy trì khá tốt các động lực tăng trưởng, với sản xuất nông nghiệp là khu vực ghi nhận tốc độ tăng cao hơn mức tăng chung và cao hơn mức tăng của nhiều năm qua. Năng suất cây trồng đạt khá và chuyển đổi cơ cấu theo hướng chuyên canh, tăng diện tích cây ăn quả đặc sản như cam Canh, bưởi Diễn, nhãn, vải., cây cảnh có giá trị cao phù hợp với điều kiện canh tác trên địa bàn. Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp toàn Thành phố tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2019. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2020 tăng 3,29%.
Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 16,0 tỷ USD, tăng 1,8% so với năm 2019. Kim ngạch nhập khẩu đạt 28,8 tỷ USD, giảm 9,1% so với năm 2019. Hội nghị "Hà Nội 2020 - hợp tác đầu tư và phát triển" được tổ chức thành công với tổng dự án được cấp chứng nhận đầu tư tăng gấp 5 5 lần và vốn đăng ký tăng gấp 11 lần so với Hội nghị xúc tiến đầu tư năm 2016. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 3,724 tỷ USD.
Lũy kế đến cuối năm 2020, Thành phố có 6.376 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đăng ký đạt 47,7 tỷ USD; vốn giải ngân khoảng 29,1 tỷ USD. Khách trong nước đến Hà Nội giảm 84,5% và tổng thu giảm 73% so với năm 2019. Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Hà Nội tăng đều cả ba khu vực (vốn Nhà nước tăng 4,6%; vốn ngoài nhà nước tăng 12,7% và vốn FDI tăng 5,6%).