Chương 1 TỔNG QUAN 1. Vật liệu cacbon Cacbon là nguyên tố đóng vai trò quan trọng cho sự sống và là nguyên tố cơ bản của hàng triệu hợp chất hóa học hữu cơ. Trong một nguyên tử cacbon, các electron lớp ngoài cùng có thể hình thành nên nhiều kiểu lai hóa khác nhau như: Cấu trúc tinh thể ba chiều (3D), hai chiều (2D), một chiều (1D) và không chiều (0D). Điều này được thể hiện thông qua sự phong phú về các dạng thù hình của vật liệu cacbon là: Kim cương, graphite, graphene, cacbon nanotube, fullerenes.
Kim cương và graphite Kim cương và graphite là hai dạng thù hình có cấu trúc tinh thể 3 chiều của cacbon được biết đến nhiều nhất. Cấu trúc của kim cương có thể được mô tả bằng hai mạng lập phương tâm mặt dịch chuyển đối với nhau theo đường chéo chính một đoạn bằng 1/4 đường chéo đó. Mỗi nguyên tử cacbon trong kim cương liên kết cộng hóa trị với 4 nguyên tử cacbon khác tạo thành một khối tứ diện.1 là sơ đồ cấu trúc không gian của kim cương và graphite.1: Cấu trúc mạng tinh thể của kim cương và graphite 4 Khác với kim cương, graphite là một dạng tinh thể có cấu trúc lớp, mỗi lớp là một tấm graphene, các tấm graphene này liên kết với nhau bằng lực liên kết yếu Van Der Waals. Bên trong mỗi lớp, mỗi một nguyên tử cacbon liên kết phẳng với ba nguyên tử cacbon khác bên cạnh bằng liên kết cộng hóa trị với góc liên kết là 1200.
Các mạng cacbon này liên kết với nhau bằng lực Van Der Waals hình thành nên cấu trúc tinh thể 3 chiều (hình 1. Graphite có đặc tính dẫn điện rất tốt do mỗi nguyên tử cacbon liên kết cộng hóa trị với 3 nguyên tử cacbon khác hình thành nên mạng phẳng với các ô hình lục giác, do đó mỗi nguyên tử cacbon trong mạng còn dư 1 electron, các electron còn lại này có thể chuyển động tự do bên trên và bên dưới mặt mạng, góp phần vào tính dẫn điện của graphite. Graphene Graphene là một mặt phẳng đơn lớp của những nguyên tử cacbon được sắp xếp chặt chẽ trong mạng tinh thể hình tổ ong 2 chiều (2D). Graphene được cuộn lại sẽ tạo nên dạng thù hình fullerene 0D, được quấn lại sẽ tạo nên dạng thù hình cacbon nanotube 1D, hoặc được xếp chồng lên nhau sẽ tạo nên dạng thù hình graphite 3D.
Thông thường graphene được chia làm 2 loại: graphene đơn lớp và đa lớp.2: Cấu trúc mạng tinh thể của một vài họ vật liệu graphene 5 Trong đó: (a) graphene đơn lớp, (b) graphene đa lớp, (c) graphene oxit - nguyên tử oxi kí hiệu bởi màu đỏ, (d) graphene oxit bị khử [50]. Graphene đơn lớp là một dạng tinh thể hai chiều của cacbon, độ linh động electron lớn và các tính chất vật lý tốt, khiến cho nó là vật liệu được quan tâm đối với lĩnh vực điện tử và quang điện tử cỡ nano. Nhưng nó không có khe vùng (độ rộng vùng cấm bằng 0), do đó dẫn đến hạn chế việc sử dụng graphene trong lĩnh vực điện tử. Graphene đa lớp gồm các lớp graphene xếp chồng lên nhau (lớn hơn 2 lớp, thông thường 2-10 lớp graphene).
Trong thực tế, đa số các ứng dụng đều sử dụng graphene đa lớp do việc chế tạo đơn giản hơn và giá thành thấp hơn của nó so với việc chế tạo graphene đơn lớp.3 là hình ảnh AFM của lớp graphene chế tạo bằng phương pháp điện hóa.3: Ảnh AFM và của graphene được chế tạo bằng phương pháp điện hóa sử dụng chất điện ly axit H2SO4 [24] Ngoài 2 loại trên, các loại khác như graphene oxit - GO (thường có cấu trúc đơn lớp chứa các nhóm chức oxi trên bề mặt và có độ dẫn điện kém), graphene oxit bị khử (GO được loại bỏ các nhóm chức oxi), graphene dạng dải băng, graphene dạng chấm lượng tử, được gọi chung là họ vật liệu graphene.4 là ảnh TEM và ảnh TEM độ phân giải cao (HRTEM) của 6 graphene chế tạo bằng phương pháp điện hóa sử dụng axit oxalic làm chất điện ly [29]. Một số phương pháp chính để chế tạo graphene Graphene thường hay được sử dụng là phương pháp lắng đọng pha hơi hóa học (CVD), bóc tách điện hóa, khử hóa học graphene oxit, bóc tách bằng con đường dung dịch sử dụng siêu âm, bóc tách cơ học .5: Sơ đồ minh họa một số công nghệ chính để chế tạo graphene 7 1. Phương pháp lắng đọng pha hơi hóa học CVD Ưu điểm của phương pháp CVD so với các phương pháp khác là có thể tạo ra graphene với diện tích lớn, độ đồng đều của màng cao, đặc biệt có thể khống chế được chiều dày graphene. Việc tách màng graphene khỏi đế mọc để chuyển lên bề mặt chất nền khác là tương đối dễ dàng [15, 52].
Tuy nhiên chế tạo graphene bằng phương pháp CVD không phù hợp với quy trình sản xuất số lượng lớn. Để chế tạo graphene các kim loại chuyển tiếp khác như Ru, Ir, Co, Re, Pt, Pd và Cu cũng đã được sử dụng như là vật liệu xúc tác trong đó nhìn chung xúc tác bằng Cu và Ni cho kết quả mọc graphene tốt nhất. Theo con đường này, graphene được tổng hợp theo 2 cơ chế, thứ nhất là cơ chế phân hủy nhiệt của một số cacbua kim loại, thứ hai là cơ chế mọc màng đơn tinh thể của graphene trên đế kim loại hoặc đế cacbua kim loại bởi sự lắng đọng hơi hóa học (Chemical Vapor Deposition) của các hidrocacbon. Cơ chế phân hủy nhiệt thường được tiến hành với đế silic cacbua (SiC) ở 13000C trong môi trường chân không cao hoặc ở 1650 0C trong môi trường khí Argon, bởi vì sự thăng hoa của Si xảy ra ở 11500C trong môi trường chân không và ở 15000C trong môi trường khí Argon.
Khi được nâng nhiệt đến nhiệt độ đủ cao các nguyên tử Si sẽ thăng hoa, các nguyên tử cacbon còn lại trên bề mặt sẽ được sắp xếp và liên kết lại trong quá trình graphite hóa ở nhiệt độ cao, nếu việc kiểm soát quá trình thăng hoa của Si phù hợp thì sẽ hình thành nên màng graphene rất mỏng phủ toàn bộ bề mặt của đế SiC.6: Quá trình chế tạo graphene trên đế đồng (Cu) bằng phương pháp CVD 8 Hình 1.7: Sự hình thành graphene trên bề mặt đế niken từ CH4 Hình 1.6 mô tả quá trình mọc graphene trên đế có xúc tác bằng Cu theo cơ chế thứ 2. Lớp màng graphene được hình thành thông qua sự phân ly hidrocacbon và sự lắng đọng cacbon trên bề mặt kim loại chuyển tiếp.7 mô tả cơ chế hình thành graphene trên bề mặt đế Ni bằng phương pháp CVD. Các nguyên tử cacbon có thể thâm nhập vào trong mạng nền Ni và quá trình hình thành cấu trúc graphene trên bề mặt Ni xảy ra khi kết thúc phản ứng CVD và quá trình hạ nhiệt độ buồng phản ứng. Tùy thuộc vào tốc độ hạ nhiệt mà chúng ta có thể tổng hợp màng graphene với số lớp cacbon khác nhau.
Nếu tốc độ hạ nhiệt rất nhanh, khi đó thời gian không đủ để các nguyên tử cacbon ngưng tụ quay trở lại bề mặt đế Ni. Nếu tốc độ hạ nhiệt trung bình, các nguyên tử cacbon đủ thời gian ngưng tụ quay trở lại bề mặt kim loại và hình thành graphene trên bề mặt Ni. Nếu tốc độ làm lạnh quá chậm, khi đó hầu như lượng nguyên tử cacbon không bám trên bề mặt mà thâm nhập sâu vào trong mạng nền kim loại. Đối với Ni, nguồn hidrocacbon (CH4) bị phân ly và lượng cacbon thâm nhập cũng như bám trên bề mặt đế dễ dàng.
Vì vậy khả năng tổng hợp graphene trên bề mặt Ni thuận lợi. Tuy nhiên, giới hạn của xúc tác Ni là các lớp màng graphene tổng hợp được không đồng đều, diện tích nhỏ, graphene đơn lớp và đa lớp nằm xen kẽ nhau. Trong khi đó đối với kim loại xúc tác Cu, nếu so sánh với Ni, Co. thì lượng cacbon thâm nhập vào trong mạng nền Cu thấp hơn rất nhiều.
Ở nhiệt độ khoảng 1084oC, chỉ có 9 0,001 - 0,008 % khối lượng nguyên tử C thâm nhập vào trong mạng nền Cu. Trong khi đó ở nhiệt độ khoảng 1326 oC, lượng nguyên tử C thâm nhập vào trong mạng nền Ni là 0,6 % khối lượng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng graphene tổng hợp trên đế Cu có chất lượng tốt hơn rất nhiều so với trên đế Ni. Màng graphene đơn lớp chất lượng cao với kích thước lên tới 75 cm có thể tổng hợp được trên đế Cu [6].8 là ảnh SEM của lớp màng graphene đơn lớp chất lượng cao với kích thước lên tới 75 cm được tổng hợp trên đế Cu sử dụng phương pháp CVD [6].8: Ảnh SEM của lớp màng graphene đơn lớp chất lượng cao với kích thước lên tới 75 cm được tổng hợp trên đế Cu sử dụng phương pháp CVD [6] 1.
Phương pháp tách mở ống nano cacbon Ống nano cacbon đơn tường (SWCNTs) nếu được tách mở dọc theo thành ống sẽ tạo thành graphene đơn lớp như minh họa trên hình 1. Phương pháp này thực hiện bằng cách cho ống nano cacbon tiếp xúc với môi trường ăn mòn bằng plasma dọc theo thân ống. Ưu điểm của cách làm này là độ tinh khiết của graphene rất cao do không lẫn bất kỳ dư lượng dung môi hay tạp chất nào khác, nguồn ống nano cacbon nhiều và giá thành thấp, quy trình thực hiện nhanh và tạo ra một lượng băng nano graphene lớn với mỗi một lần thực hiện. Ngoài ra việc mở ống nano cacbon còn có thể đạt được bằng cách oxi hóa ống nano cacbon bởi KMnO4 trong môi trường H2SO4, như minh họa trên hình 1.
Phương pháp tách cơ học Nguyên lý của phương pháp này là phá vỡ lực liên kết Van Der Waals tương đối yếu giữa các lớp graphite để tách lấy lớp màng mỏng gồm một vài đơn lớp graphene bằng băng dính [33].10 mô tả quá trình bóc tách graphene từ than chì bằng cách sử dụng băng dính thông thường. Ban đầu, tấm graphite được nghiền thành những mảng nhỏ (a), sau đó được gắn lên bề mặt miếng băng dính “Scotch” (b,c), việc này được lặp đi lặp lại nhiều lần nhằm mục đích bóc mỏng dần những lớp graphite cho đến khi chỉ còn lại vài lớp cacbon (graphene). Màng mỏng graphene này được chuyển lên bề mặt đế SiO2 để có thể tiến hành một số phép đo xác định chính xác độ dày của nó (d). Phương pháp bóc tách cơ học có hạn chế là chất lượng màng graphene không 11 đồng đều, ảnh hưởng đến tính chất điện tử, đồng thời không phù hợp trong việc chế tạo màng graphene diện tích lớn.10: Chế tạo graphene bằng phương pháp bóc tách cơ học [33] 1.