Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT 1. Khái niệm về môi trường và phát triển bền vững 1. Khái niệm môi trường Môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Con người sống trên Trái đất, nên môi trường của loài người chính là không gian bao quanh Trái đất, có quan hệ trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Trong Địa lí học, người ta gọi đó là môi trường xung quanh hay môi trường địa lí. Môi trường sống của con người, tức là hoàn cảnh bao quanh con người, có ảnh hưởng đến sự sống và phát triển của con người, đến chất lượng cuộc sống của con người. Môi trường sống của con người bao gồm môi trường tự nhiên (bao gồm các thành phần của tự nhiên như địa hình, địa chất, đất, khí hậu, nước, sinh vật), môi trường xã hội (bao gồm các quan hệ xã hội trong sản xuất, trong phân phối, trong giao tiếp), môi trường nhân tạo (bao gồm các đối tượng lao động do con người sản xuất ra và chịu sự chi phối của con người) [7]. Môi trường có ba chức năng chính đối với con người: là không gian sống của con người, là nguồn cung cấp tài nguyên thiên nhiên, là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra.
Do vậy, con người có thể làm nâng cao chất lượng môi trường, cũng có thể làm suy thoái chất lượng môi trường, chính điều này đã làm ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của xã hội loài người [7]. Khái niệm ô nhiễm, suy thoái, sự cố môi trường Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất vật lí, hóa học. của môi trường bởi các chất gây ô nhiễm. Chất gây ô nhiễm là những chất độc hại được thải ra trong quá trình sinh hoạt, trong quá trình sản xuất hay trong các hoạt động khác.
Chất thải có thể ở dạng rắn, khí, lỏng, hoặc các chất khác. Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng, số lượng của các thành phần tạo ra môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên. 9 Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động sản xuất của con người hoặc biến đổi thất thường của thiên nhiên gây suy thoái môi trường nghiêm trọng gồm: bão lụt, hạn hán, sạt lở đất, hỏa hoạn, cháy rừng, sự cố kĩ thuật gây nguy hại đến môi trường của cơ sở sản xuất kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kĩ thuật [7]. Khái niệm phát triển bền vững Thuật ngữ “phát triển bền vững” xuất hiện từ những năm đầu vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng đén sự phát triển kinh tế mà phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học” [8].
Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 qua báo cáo Brundtland (còn gọi là báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới – WCED. Báo cáo này ghi rõ Phát triển bền vững là “sự phát triển có thể đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng những nhu cầu trong tương lai…”. Hội nghị môi trường toàn cầu tại Rio de Janerio (6/1992) đưa ra khái niệm: phát triển bền vững nghĩa là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường một cách khoa học đồng thời với sự phát triển kinh tế. Theo Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (World Commission and Environment and Development, (WCED) thì “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ”.
Năm 2002, Hội nghị thượng đỉnh Thế giới và phát triển bền vững nhóm họp với sự tham gia của các nhà lãnh đạo cũng như các chuyên gia về kinh tế, xã hội và môi trường của gần 200 quốc gia đã tổng kết và đưa ra quyết sách liên quan đến các vấn đề về nước, năng lượng, sức khỏe, nông nghiệp và sự đa dạng sinh thái. Khái niệm Phát triển bền vững hiện đang là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi quốc gia sẽ dựa theo đặc thù kinh tế, xã hội, chính trị, địa 10 lý, văn hóa…riêng để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó, nhằm đảm bảo có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, giữ gìn. Khái niệm cơ bản về nước 1. Khái niệm môi trường nước Môi trường nước bao gồm tất cả các nguồn nước trong sông ngòi, ao, hồ chứa, đầm lầy, nước ngầm, biển, đại dương và hơi nước trong khí quyển.
Môi trường nước có quan hệ chặt chẽ với môi trường nói chung, là thành phần quan trọng của cảnh quan và sự sống. Nước là thành phần phổ biến của bề mặt Trái Đất. Nước có vai trò điều hòa khí hậu, đóng vai trò quyết định trong thế cân bằng nhiệt độ trên Trái Đất thông qua khả năng hấp thụ, tỏa nhiệt và khả năng giữ lại được khối lượng lớn bức xạ Mặt Trời đi vào khoảng không gian của Trái Đất. Cơ cấu nguồn nước trên trái đất Nước trên trái đất chủ yếu là nước mặn (chiếm 97%), nước ngọt chỉ chiếm 3%.
Trong tổng lượng nước ngọt: nước ở thể băng chiếm 68,7%, nước ngầm chiếm 30,1%, nước mặt ngọt chỉ chiếm 0,3%, còn lại là tồn tại ở thể khác 0,9%. Trong tổng lượng nước mặt ngọt: nước trong các hồ chiếm 87%, nước trong các đầm lầy 11%, nước trong các sông chỉ chiếm 2% [12], [Error! Reference source not found. Khái niệm về nước mặt Dòng chảy mặt: lượng lớn nước trong sông là do dòng chảy trực tiếp trên mặt đất cung cấp và được định nghĩa là dòng chảy mặt. Thông thường, một phần nước mưa rơi thấm ngay vào đất, nhưng khi đất đạt tới trạng thái bão hoà hay không thấm, thì bắt đầu chảy theo sườn dốc thành dòng chảy.
Trong một trận mưa lớn, các dòng nước nhỏ chảy xuôi sườn dốc. Nước sẽ chảy theo những kênh trên mặt đất trước khi chảy vào trong các sông lớn. Dòng chảy mặt chảy vào sông, lại bắt đầu hành trình quay trở về đại dương. Cũng giống như tất cả các thành phần khác trong vòng tuần hoàn nước, quan hệ giữa mưa và dòng chảy cũng biến đổi theo thời gian và không gian.
Dòng chảy mặt bị chi phối bởi các nhân tố khí tượng địa vật lý và địa hình. Chỉ khoảng 1/3 lượng nước mưa rơi trên bề mặt đất chảy vào sông suối và quay trở lại đại dương. 2/3 còn 11 lại bị bốc thoát hơi hoặc thấm vào nước ngầm. Con người thường sử dụng nước cho các mục đích khác nhau từ dòng chảy nước mặt.
Dòng chảy sông ngòi: là lượng nước chảy trong sông, suối, hoặc lạch nước. Sông ngòi rất quan trong không chỉ đối với con người mà đối với cuộc sống khắp mọi nơi. Con người sử dụng nước sông cho nhu cầu nước uống và nước tưới, sản xuất ra điện, làm sạch chất thải (xử lý nước thải), giao thông thuỷ, và kiếm thức ăn. Sông ngòi còn là môi trường sống cho tất cả các loài động và thực vật dưới nước.
Sông ngòi bổ sung cho tầng ngậm nước ngầm dưới mặt đất qua lòng sông, và cho đại dương. Dòng chảy sông ngòi luôn thay đổi từng ngày. Mưa rơi làm tăng mực nước sông, và mực nước sông có thể tăng ngay cả khi mưa ở rất xa trên lưu vực sông. Nước ngọt mặt: Nước ngọt trên mặt đất là yếu tố cần thiết cho mọi sự sống trên Trái Đất.
Nước ngọt mặt bao gồm nước trong các dòng sông, ao, hồ, hồ nhân tạo, và các đầm lầy nước ngọt. Con người chủ yếu sử dụng nước ngọt mặt cho các nhu cầu thiết yếu của mình. Nước trên mặt đất thực sự giúp duy trì cuộc sống. Nước ngọt trên bề mặt Trái Đất tương đối khan hiếm.
Chỉ khoảng 3% của tổng lượng nước Trái Đất là nước ngọt, các hồ nước ngọt và các đầm nước ngọt chiếm 0,29% tổng lượng nước ngọt trên Trái Đất, các sông chỉ chiếm khoảng 0,006% tổng lượng nước ngọt trên Trái Đất. Ta có thể nhận thấy rằng nước ngọt, yếu tố cần thiết cho sự tồn tại cuộc sống trên Trái Đất, chỉ chiếm một phần cực nhỏ "một giọt nước trong biển cả mênh mông" của tổng lượng nước trên Trái Đất [Error! Reference source not found. Thành phần và tính chất của nước trong tự nhiên Nước tự nhiên thường chứa các chất hòa tan hoặc hạt bé không tan. Chất tan không làm đục nước, chẳng hạn như nước biển chứa nhiều muối nhưng vẫn trong.
Tuy nhiên, chất tan có thể làm nước có màu, ví dụ thuốc tím, khi tan cho nước màu tím. Các chất vô cơ không tan trong nước tự nhiên thường là canxi hydrocacbonat Ca(HCO3)2, natri clorua NaCl, magie sunfat MgSO4 … nhưng chúng không ở dạng phân tử mà phân ly thành các cation và anion. Các chất hữu cơ trong tự nhiên có rất nhiều loại như các axit hữu cơ, các loại protein phân tử bé, các loại đường và polisaccarit, đáng chú ý nhất là axit humic và axit funvic, thể không tan gồm các hạt keo và thể lơ lửng [14]. Khái niệm nước sạch Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau: - Nước trong, không màu.
- Không mùi vị lạ, không có tạp chất. - Không chứa chất tan có hại. - Không có mầm gây bệnh. Hay nói cách khác, nước sạch là nước hợp vệ sinh.
Khi mang đi thử nghiệm đạt giới hạn cho phép tất cả các chỉ tiêu theo quy định tại Quy chuẩn Việt Nam (QCVN 01:2009/BYT), quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt [3]. Khái niệm ô nhiễm nước và các tác nhân gây ô nhiễm 1. Khái niệm ô nhiễm nước Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước.