Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" do sinh viên Nguyễn Thị Lệ thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Đức Thạnh (Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2016). Đề tài thuộc chuyên ngành Khoa học Môi trường, được triển khai nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn về quản lý tài nguyên và an toàn cấp nước nông thôn.

Xã Vạn Thọ là một địa bàn thuần nông thuộc vùng trung du bán sơn địa, tiếp giáp với Hồ Núi Cốc. Mặc dù nền kinh tế của địa phương có xu hướng áp dụng cơ giới hóa và tiến bộ khoa học kỹ thuật, quá trình thâm canh nông nghiệp cùng với sự thiếu hụt quy hoạch hạ tầng môi trường đã tạo áp lực lớn lên nguồn nước. Nước mặt tại các sông, suối, ao, đầm đều có dấu hiệu ô nhiễm do tiếp nhận trực tiếp chất thải sinh hoạt và nông nghiệp chưa qua xử lý. Do địa phương chưa có hệ thống cấp nước sạch tập trung, 100% người dân sinh sống tại xã phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nước dưới đất thông qua hai hình thức khai thác chính: giếng đào và giếng khoan.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 4 nhiệm vụ:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Nắm được tình hình khai thác và sử dụng nguồn nước sinh hoạt của các hộ dân trên địa bàn xã.
  3. Xác định các nguồn và nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nước tại địa phương.
  4. Đề xuất các nhóm biện pháp kỹ thuật, quản lý và truyền thông nhằm khắc phục, giảm thiểu ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hợp vệ sinh của nhân dân.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng chất lượng môi trường nước sinh hoạt (nước giếng đào và giếng khoan) và tập quán sử dụng nước của người dân.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn toàn bộ 12 xóm thuộc xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được tổ chức điều tra, khảo sát thực địa và lấy mẫu phân tích trong thời gian từ tháng 08/2015 đến tháng 11/2015 (thời điểm quan trắc lấy mẫu phòng thí nghiệm thực hiện vào ngày 17/11/2015).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua hệ thống khái niệm chuẩn mực về bảo vệ môi trường, tài nguyên nước và các văn bản pháp quy kỹ thuật hiện hành tại thời điểm thực hiện.

Cơ sở lý luận và khung khái niệm:

  • Khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2005.
  • Khái niệm suy thoái nguồn nước, ô nhiễm nước sinh học, hóa học (chất vô cơ, hữu cơ tổng hợp) và ô nhiễm vật lý.
  • Tiêu chí xác định "nước sạch quy ước" theo hướng dẫn của Ban chỉ đạo Quốc gia về cấp nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn (nước máy, nước giếng khoan chất lượng tốt, nước mưa hợp vệ sinh, nước mặt được lắng lọc và tiệt trùng).

Khung pháp lý và quy chuẩn áp dụng:

  • Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13.
  • Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, Nghị định số 162/2003/NĐ-CP, Nghị định số 179/1999/NĐ-CP, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP, Nghị định số 34/2005/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường).
  • Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT, Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT, Thông tư liên tịch số 04/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT.
  • Quy chuẩn so sánh: QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt), QCVN 01:2009/BYT, QCVN 08:2008/BTNMT và QCVN 09:2008/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và phân tích:

  1. Phương pháp thu thập và kế thừa số liệu thứ cấp: Tiếp nhận báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, địa chính, tài nguyên đất và hiện trạng thủy lợi từ Ủy ban nhân dân xã Vạn Thọ năm 2014.
  2. Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học: Sử dụng phiếu điều tra cấu trúc sẵn đối với 84 hộ gia đình đại diện tại 12 xóm (phân bổ đồng đều 7 hộ/xóm), không phân biệt lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp.
  3. Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát cảm quan về màu, mùi vị của nguồn nước, vị trí tương đối giữa giếng nước với các nguồn thải (chuồng trại, nhà tiêu, ao tù).
  4. Phương pháp lấy mẫu và phân tích thí nghiệm: Lấy 4 mẫu nước ngầm theo tiêu chuẩn TCVN 6663-11:2011 (chất lượng nước - hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm) và bảo quản mẫu theo TCVN 6663-3:2008 trong túi tối màu, chuyển ngay về phòng thí nghiệm Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
  5. Phương pháp phân tích 8 chỉ tiêu hóa lý: Mùi vị (cảm quan), pH (máy đo đa chỉ tiêu), COD (TCVN 6491:1999), BOD5 (tính theo công thức BOD5 = 70% COD), Sắt tổng số - Fe (trắc quang theo TCVN 6177:1996), Độ cứng tổng số (chuẩn độ EDTA môi trường kiềm), Clorua - Cl⁻ (chuẩn độ AgNO₃ chỉ thị K₂CrO₄), Nitrat - NO₃⁻ (trắc quang theo TCVN 6180:1996).
  6. Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Tổng hợp dữ liệu bằng phần mềm Word và Excel, so sánh đối chiếu trực tiếp với QCVN 02:2009/BYT.

Bảng mô tả vị trí lấy 4 mẫu nước quan trắc tại xã Vạn Thọ:

Ký hiệu Địa điểm Ngày lấy Loại nguồn nước Đặc điểm vị trí quan trắc
M1 Xóm 1 17/11/2015 Giếng đào Hộ ông Phan Văn Lợi; độ sâu giếng 12 m; cách mép ao 30 m
M2 Xóm 4 17/11/2015 Giếng đào Hộ bà Nguyễn Thị Liễu; độ sâu giếng 30 m; cách khu nghĩa trang 500 m
M3 Xóm 7 17/11/2015 Giếng khoan Hộ ông Hoàng Văn Thái; độ sâu giếng 35 m; cách chuồng gia súc 50 m
M4 Xóm 10 17/11/2015 Giếng khoan Hộ ông Nguyễn Văn Duy; độ sâu giếng 10 m; cách hồ thủy sản 150 m

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của nước đối với cơ thể sống (nước chiếm 70% khối lượng cơ thể người, nhu cầu tối thiểu 2 lít nước uống và 10 lít nước sinh hoạt/người/ngày). Đặt trong bối cảnh xã Vạn Thọ, việc gia tăng hoạt động sản xuất nông nghiệp và xử lý rác thải tự phát làm nảy sinh nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm. Khóa luận xác lập 4 mục tiêu, 4 yêu cầu mang tính kỹ thuật và nêu rõ ý nghĩa thực tiễn, học thuật đối với sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật lý luận và số liệu toàn cầu, quốc gia và địa phương:

  • Tài nguyên nước thế giới: Nước mặn chiếm 97%, nước ngọt chỉ chiếm 3%, trong đó chỉ khoảng 0,003% là nước ngọt sạch con người tiếp cận được. Nhu cầu phân bổ: 50% nông nghiệp, 40% công nghiệp, 10% sinh hoạt.
  • Hiện trạng tại Việt Nam: Mạng lưới 2.372 con sông dài trên 10 km thuộc 9 hệ thống sông chính (sông Bằng Giang – Kỳ Cùng, Thái Bình, sông Hồng, sông Mã, sông Lam, Thu Bồn – Vu Gia, sông Ba, Đồng Nai, Mê Kông). Tổng lượng nước mặt đạt 830 – 840 tỷ m³/năm nhưng 63% là nguồn ngoại sinh từ bên ngoài biên giới. Lượng nước bình quân đầu người giảm từ 12.800 m³/người/năm (1990) xuống 8.000 m³/người/năm (2011). Trích dẫn khảo sát 185 nguồn nước nông thôn năm 2006 cho thấy chỉ có 1,1% nguồn nước đạt tiêu chuẩn vệ sinh, tỷ lệ ô nhiễm vi sinh vật cao chiếm tới 72,95%.
  • Tài nguyên nước tỉnh Thái Nguyên: Trình bày đặc điểm thủy văn hệ thống Sông Cầu (dài 290 km, diện tích lưu vực 6.030 km², mật độ lưới sông 0,95 km/km²), kênh dẫn nước nhân tạo Sông Máng dài 52 km và Hồ Núi Cốc (diện tích 25 km², sâu 35 m, dung tích 160 – 200 triệu m³).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng, địa bàn xã Vạn Thọ, tiến độ thời gian thực hiện (tháng 08 – tháng 11/2015). Quy định rõ nội dung đánh giá điều kiện tự nhiên – xã hội, nhận diện 5 nguồn gây ô nhiễm (rác sinh hoạt, nước thải sinh hoạt, nhà vệ sinh/chuồng trại, phân bón/thuốc BVTV, dịch vụ thương mại) và chuẩn hóa quy trình phân tích 8 chỉ tiêu hóa lý đối chiếu QCVN 02:2009/BYT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn diện các dữ liệu thực địa thu thập được tại xã Vạn Thọ:

  1. Điều kiện tự nhiên và hạ tầng:
  • Tổng diện tích tự nhiên: 853,88 ha. Trong đó, đất nông nghiệp là 385,75 ha (chiếm 45,18%); đất phi nông nghiệp là 423,93 ha (chiếm 49,65%); đất ở nông thôn chiếm 39,41 ha (4,62%); đất chưa sử dụng là 4,79 ha (0,56%). Diện tích rừng đạt 243,45 ha.
  • Thủy văn: Dòng Suối Đôi bắt nguồn từ dãy Tam Đảo dài 8,5 km chảy qua xã; tổng diện tích mặt nước ao, hồ, đầm đạt 381,77 ha. Hệ thống thủy lợi có 2 đập chính (đập Vai Say, đập Vai Cướm) dẫn nước từ hồ Gò Miếu (xã Ký Phú); tổng chiều dài kênh mương là 31,77 km (trong đó kiên cố hóa 16,5 km, còn lại 15,27 km là kênh đất).
  • Tồn tại địa hình: Có 30 ha đất nông nghiệp nằm dưới cốt 48,25 của Hồ Núi Cốc thường xuyên bị ngập úng khi nước dâng, gây tác động trực tiếp tới đời sống của 230 hộ gia đình.
  1. Dân số, lao động và kinh tế (số liệu năm 2014):
  • Toàn xã có 926 hộ với 3.650 nhân khẩu phân bố tại 12 xóm. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đạt 1,05%.
  • Nguồn lao động: Tổng số 1.901 người (chiếm 52,08% dân số xã). Trong đó lao động nông nghiệp chiếm ưu thế áp đảo với 1.527 người (80,3%), lao động thương mại dịch vụ có 51 người (2,7%), lao động khác là 323 người (17%).
  • Giao thông: Đường trục liên xã dài 9,56 km, đường trục xóm dài 5,32 km và đường ngõ xóm dài 3,25 km đều đã được bê tông hóa 100%.

Bảng tổng hợp dân số 12 xóm xã Vạn Thọ năm 2014:

STT Tên xóm Số hộ Số khẩu (người)
1 Xóm Vai Say 41 150
2 Xóm Chăn Nuôi 76 308
3 Xóm 1 75 295
4 Xóm 2 94 406
5 Xóm 3 80 300
6 Xóm 4 86 300
7 Xóm 5 75 274
8 Xóm 6 99 414
9 Xóm 7 78 312
10 Xóm 8 75 276
11 Xóm 9 95 395
12 Xóm 10 52 220
Tổng 12 xóm 926 3.650
  1. Hiện trạng khai thác nước và các nguy cơ ô nhiễm:
  • Người dân không sử dụng nguồn nước mặt sông suối, ao hồ cho ăn uống do nước mặt nhiễm bẩn. Nguồn cấp nước sinh hoạt phụ thuộc 100% vào giếng ngầm (giếng đào sâu từ 10 – 30 m, giếng khoan sâu từ 10 – 35 m).
  • Toàn bộ nước thải sinh hoạt và nước rửa chuồng trại chăn nuôi gia súc (toàn xã có 240 con trâu, 31 con bò, gia cầm 27 nghìn con) hầu hết thải trực tiếp ra rãnh đất hoặc ngấm vào đất xung quanh vị trí giếng.
  • Tác giả phân tích dữ liệu điều tra 84 hộ về khoảng cách từ giếng tới nhà tiêu/chuồng trại, tỷ lệ sử dụng bể lọc cát/than và đánh giá chất lượng nước qua 4 mẫu M1, M2, M3, M4 tại các xóm 1, 4, 7, 10. Đồng thời ghi nhận phản ánh của người dân về các bệnh liên quan đến nguồn nước (bệnh ngoài da, tiêu hóa).
  1. Đề xuất giải pháp:
  • Nhóm giải pháp thể chế, chính sách và cơ chế cấp vốn.
  • Nhóm giải pháp quản lý nhà nước cấp cơ sở.
  • Nhóm giải pháp kỹ thuật xử lý tại chỗ: xây dựng gờ chắn bảo vệ miệng giếng đào, nắp đậy kín, bố trí giàn mưa khử sắt và bể lọc cát - sỏi - than hoạt tính cho giếng khoan; tuân thủ cự ly an toàn tối thiểu giữa giếng và nguồn nhiễm bẩn.
  • Nhóm giải pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức vệ sinh nông thôn.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về tình trạng cấp nước, nguyên nhân ô nhiễm và đề nghị Ủy ban nhân dân huyện Đại Từ, Ủy ban nhân dân xã Vạn Thọ hỗ trợ đầu tư trạm cấp nước tập trung và xử lý các điểm ngập úng cốt 48,25.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả thực nghiệm và điều tra:

  • Khóa luận đã phân tích 8 chỉ tiêu chất lượng nước trên 4 mẫu giếng đại diện tại 4 xóm (M1: giếng đào xóm 1; M2: giếng đào xóm 4; M3: giếng khoan xóm 7; M4: giếng khoan xóm 10). Mẫu được kiểm nghiệm theo hệ thống tiêu chuẩn TCVN và đối chiếu với QCVN 02:2009/BYT.
  • Khảo sát định lượng ý kiến cộng đồng trên mẫu 84 hộ dân tại 12 xóm cho thấy thực tế sử dụng thiết bị lọc nước còn hạn chế, nhiều giếng nước được bố trí ở cự ly quá gần chuồng chăn nuôi hoặc nhà vệ sinh không thấm nước đạt chuẩn, dẫn đến nguy cơ thẩm thấu chất ô nhiễm hữu cơ và nitrat vào tầng ngậm nước nông.
  • Xác định thực trạng thoát nước và thủy văn địa phương: 31,77 km kênh mương có tới 15,27 km là mương đất; 30 ha đất nông nghiệp thường xuyên bị ngập úng cục bộ do mực nước Hồ Núi Cốc vượt cốt 48,25.

Về đề xuất và giải pháp:

  • Về quản lý: Khuyến nghị UBND xã đưa tiêu chí nước sạch và bảo vệ nguồn nước ngầm vào hương ước xóm; tăng cường kiểm tra việc xả thải bao gói thuốc bảo vệ thực vật trên đồng ruộng (vùng chuyên canh chè 18 ha và đồng lúa).
  • Về kỹ thuật: Đưa ra sơ đồ bố trí giếng đào hợp vệ sinh có thành giếng cao hơn mặt đất tối thiểu 0,6 – 0,8 m, có nắp đậy, sân lát xi măng dốc thoát nước ra xa; thiết kế bể lọc cát kết hợp giàn phun mưa làm thoáng nhằm oxy hóa hợp chất sắt và khử mùi cho nước giếng khoan trước khi sử dụng.

Đóng góp của tác giả:

  • Đây là công trình đầu tiên khảo sát, đánh giá đồng bộ hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại toàn bộ 12 xóm của xã Vạn Thọ.
  • Cung cấp bộ số liệu đo đạc thực tế về chất lượng nước ngầm và bức tranh sử dụng nước của địa phương năm 2015, làm cơ sở khoa học để chính quyền xã xây dựng kế hoạch thực hiện tiêu chí môi trường trong chương trình xây dựng nông thôn mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế do tác giả tự ghi nhận và giới hạn từ phạm vi nghiên cứu:

  • Số lượng mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm còn ít (chỉ thực hiện được 4 mẫu nước ngầm tại 4 xóm trên tổng số 12 xóm của toàn xã) do hạn chế về kinh phí và trang thiết bị thực hiện đồ án sinh viên.
  • Thời gian lấy mẫu tập trung vào một đợt duy nhất trong mùa khô (tháng 11/2015), chưa quan trắc được sự biến thiên nồng độ các chất ô nhiễm giữa mùa mưa (tháng 4 đến tháng 10) và mùa khô (tháng 11 đến tháng 3).
  • Chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật quan trọng (Coliform tổng số, E. coli) và kim loại nặng nguy hại (Asen, Chì, Cadimi) vốn là các yếu tố có nguy cơ cao tại khu vực nông thôn và ven hồ chứa.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mật độ lấy mẫu trên cả 12 xóm, bổ sung quan trắc định kỳ theo mùa đối với cả nước mặt Suối Đôi, nước Hồ Núi Cốc và tầng nước ngầm.
  • Bổ sung chỉ tiêu vi sinh vật và kim loại nặng để đánh giá đầy đủ mức độ an toàn theo QCVN 01:2009/BYT cho mục đích ăn uống.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Nước, Kỹ thuật Môi trường trong việc tham khảo phương pháp xây dựng đề cương nghiên cứu đánh giá hiện trạng môi trường cấp xã.
  • Cán bộ phụ trách địa chính – nông nghiệp – môi trường tại các xã miền núi, trung du có điều kiện tự nhiên tương đồng, làm cơ sở tham khảo xây dựng kế hoạch cấp nước sinh hoạt nông thôn.
  • Tham khảo về mặt phương pháp luận: Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn xã hội học tại nông thôn; quy trình kỹ thuật lấy mẫu nước ngầm theo TCVN 6663-11:2011; phương pháp xác định nhanh chỉ tiêu COD và tính toán BOD5 trong phòng thí nghiệm nông lâm.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận đã khảo sát bao nhiêu hộ dân và phương pháp phân bổ mẫu điều tra như thế nào?
Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn 84 hộ gia đình bằng phiếu câu hỏi chuẩn bị sẵn. Cỡ mẫu được phân bổ đều trên toàn bộ 12 xóm của xã Vạn Thọ (gồm xóm Vai Say, xóm 1, xóm Chăn Nuôi, xóm 2, xóm 3, xóm 4, xóm 5, xóm 6, xóm 7, xóm 8, xóm 9, xóm 10), mỗi xóm khảo sát ngẫu nhiên đúng 7 hộ gia đình, không phân biệt nghề nghiệp, tuổi tác và trình độ học vấn.

Những vị trí nào đã được lựa chọn để lấy mẫu phân tích chất lượng nước?
Tác giả đã lấy 4 mẫu nước ngầm tại 4 xóm vào ngày 17/11/2015:

  • Mẫu M1 (xóm 1): Giếng đào sâu 12 m tại nhà ông Phan Văn Lợi, cách mép ao 30 m.
  • Mẫu M2 (xóm 4): Giếng đào sâu 30 m tại nhà bà Nguyễn Thị Liễu, cách nghĩa trang 500 m.
  • Mẫu M3 (xóm 7): Giếng khoan sâu 35 m tại nhà ông Hoàng Văn Thái, cách khu chuồng nuôi gia súc 50 m.
  • Mẫu M4 (xóm 10): Giếng khoan sâu 10 m tại nhà ông Nguyễn Văn Duy, cách hồ nuôi thủy sản 150 m.

Các thông số hóa lý nào của nước sinh hoạt đã được đo đạc trong phòng thí nghiệm?
Nghiên cứu kiểm nghiệm 8 thông số bao gồm: Mùi vị (xác định bằng cảm quan), pH (đo bằng máy đa chỉ tiêu), COD (theo TCVN 6491:1999), BOD5 (tính theo công thức BOD5 = 70% COD), hàm lượng Sắt tổng số - Fe (trắc quang theo TCVN 6177:1996), Độ cứng tổng số (chuẩn độ EDTA môi trường kiềm), ion Clorua - Cl⁻ (chuẩn độ AgNO₃ với chỉ thị K₂CrO₄), và ion Nitrat - NO₃⁻ (trắc quang theo TCVN 6180:1996). Kết quả được so sánh với QCVN 02:2009/BYT.

Địa hình xã Vạn Thọ chịu tác động ngập úng như thế nào từ Hồ Núi Cốc?
Theo số liệu địa chính xã năm 2014 được tác giả trích dẫn, xã Vạn Thọ có 30 ha diện tích đất nông nghiệp nằm dưới cốt 48,25. Do nằm sát hồ chứa, khi nước Hồ Núi Cốc dâng cao thường xuyên gây úng ngập vùng trũng thấp này, làm đình trệ hoạt động gieo trồng và tác động tiêu cực đến sinh hoạt của 230 hộ dân trong khu vực.

Tình hình cơ sở hạ tầng giao thông và nguồn lao động của xã Vạn Thọ tại thời điểm nghiên cứu ra sao?
Tính đến năm 2014, hạ tầng giao thông của xã đã được bê tông hóa 100% trên các tuyến đường trục liên xã (9,56 km), đường trục xóm (5,32 km) và đường ngõ xóm (3,25 km). Toàn xã có 1.901 lao động (chiếm 52,08% dân số), trong đó lao động nông nghiệp chiếm đa số với 1.527 người (80,3%), lao động thương mại dịch vụ chỉ chiếm 2,7% (51 người) và lao động khác chiếm 17% (323 người).

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Lệ đã phản ánh một cách hệ thống hiện trạng khai thác và chất lượng môi trường nước sinh hoạt tại xã Vạn Thọ, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 2016. Dữ liệu thực nghiệm từ 4 điểm quan trắc cùng khảo sát 84 hộ dân tại 12 xóm đã làm rõ sự phụ thuộc hoàn toàn của cư dân vào nguồn nước ngầm trong bối cảnh thiếu hụt hạ tầng cấp nước sạch và nguy cơ ô nhiễm từ hoạt động chăn nuôi, nông nghiệp. Công trình đưa ra các căn cứ thực tiễn và nhóm giải pháp quản lý - kỹ thuật phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội địa phương, có giá trị ứng dụng rõ ràng cho công tác quản lý tài nguyên và vệ sinh môi trường nông thôn.