MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của con người, vì đó là nguồn gốc của mọi sự sống trên trái đât. Con người sử dụng tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực thực phẩm và các sản phẩm của nông nghiệp để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Đất, đặc biệt là diện tích đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và hoạt động sản xuất canh tác của con người. Trong quá trình canh tác đất, những biện pháp canh tác thâm canh, và việc sử thuốc bảo vệ thực vật đã được tiến hành chỉ với mục đích chính là thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của cây để đạt năng suất cao điều đó đã tạo nên áp lực ngày càng lớn lên đất đai , làm cho quỹ nông nghiệp luôn có nguy cơ bị giảm diện tích trong khi khả năng khai hoang để mở rộng diện tích lại hạn chế.
Điều kiện tự nhiên của Việt Nam đặc biệt là các tỉnh miền núi phía Bắc thuận lợi cho canh tác chè, một loại cây đặc trưng cho canh tác cây công nghiệp mở nước ta hiện nay. Là cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam sản xuất chè đã trở thành ngành kinh tế kỹ thuật với diện tích khoảng 131 nghìn ha, hàng vạn hộ nông dân sản xuất và chế biến chè, các trung tâm nghiên cứu chè tại các miền đất nước, các khóa đào tạo về ngành chè của các trường đại học nông nghiệp. Hiện nay nước ta có khoảng 34 tỉnh thành trồng chè với diện tích khoảng 131 nghìn ha, trong đó tập trung vào 14 tỉnh [7]. Cây chè Việt Nam đã khẳng định được vị trí của mình không chỉ bằng việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn mang lại một nguồn ngoại tệ đáng kể thông qua việc xuất khẩu các sản phẩm chè.
Cùng với nhiều địa phương trong cả nước, nhân dân Thái Nguyên có nhiều kinh nghiệm về trồng, chăm sóc, thu hoạch và chế biến chè. Đã biết tận dụng lợi thế về đất đai, khí hậu tạo nên hương vị chè Thái nguyên đặc trưng không thể lẫn với chè khác. Thị trường trong nước và nhiều nước trên thế giới đã biết đến chè Thái nguyên. Hiện nay tỉnh Thái Nguyên có diện 2 tích chè lớn thứ 2 trong cả nước (17.660 ha), cả 9 huyện, thành thị đều có sản xuất chè.
Do thiên nhiên ưu đãi về thổ nhưỡng đất đai, nguồn nước, thời tiết khí hậu, rất phù hợp với cây chè. Vì vậy nguyên liệu chè búp tươi ở Thái Nguyên có phẩm cấp, chất lượng rất cao. Phú Xuyên là một trong số những vùng sản xuất chè được đánh giá là vùng đất sản xuất chè ngon đặc biệt của Thái Nguyên. Cây chè xuất hiện ở la bằng từ cuối thế kỷ XIX, hiện nay tổng diện tích chè toàn xã có gần 200ha được phân bố ở cả 18 xóm, năng suất chè bình quân đạt 103,2 tạ/ha.
Tuy nhiên, sản xuất chè hiện nay đang có những mặt trái của nó, do nhận thức không đầy đủ của người dân nên họ đã và đang sử dụng thái quá phân vô cơ và thuốc bảo vệ thực vật. Chính điều đó không nhưng không làm tăng hiệu quả của sản xuất mà còn để lại một khối lượng lớn tồn dư trong đất, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường. Bên cạnh đó, trong bối cảnh hội nhập hiện nay, thị trường chè ở nước ngoài ngày càng yêu cầu khắt khe với chất lượng sản phẩm chè. Vì vậy, nghiên cứu các tác động của các yếu tố canh tác nói chung và việc sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nói riêng cho chè để thấy được sự ảnh hưởng của chúng đến năng suất, chất lượng chè, cũng như ảnh hưởng đến môi trường sinh thái là rất cần thiết.
Và theo đó sẽ đưa ra những biện pháp sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật hợp lý, đạt hiệu quả cao. Xuất phát từ thực tế nói trên và nguyện vọng của bản thân cùng với sự đồng ý của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS Lương Văn Hinh em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình canh tác chè tới môi trường đất xã Phú Xuyên – huyện Đại từ - tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu chung - Đánh giá ảnh hưởng của quá trình canh tác chè tới môi trường đất xã Phú Xuyên – huyện Đại từ - tỉnh Thái Nguyên, đề xuất giải pháp, các biện pháp canh tác phù hợp làm giảm ô nhiễm môi trường và tăng độ phì nhiêu cho đất, đồng thời tăng năng suất, chất lượng cây trồng của khu vực phù hợp với lợi ích và điều kiện của địa phương. Mục tiêu cụ thể Đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón và các hợp chất bảo vệ thực vật và quá trình xử lý bao bì hóa chất bảo vệ thực vật sau khi sử dụng tại xã Phú Xuyên.
Đánh giá hiểu biết của người dân trong xã về tình hình sử dụng và ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến môi trường. Đưa ra giải pháp, các biện pháp canh tác phù hợp làm giảm ô nhiễm môi trường và tăng độ phì nhiêu cho đất, đồng thời tăng năng suất, chất lượng cây trồng của khu vực phù hợp với lợi ích và điều kiện của địa phương. Yêu cầu của đề tài - Thu thập đầy đủ các tài liệu, số liệu về hiện trạng môi trường đất, điều kiện tự nhiên,kinh tế - xã hội của xã Phú Xuyên – huyện Đại từ - tỉnh Thái Nguyên. Các số liệu thu thập chính xác, thống nhất và có hệ thống.
- Đánh giá được ảnh hưởng của biện pháp canh tác tới môi trường đất tại xã Phú Xuyên. - Việc bố trí thí nghiệm, phân tích mẫu phải đảm bảo đúng quy trình Kỹ thuật. - Kết quả điều tra đánh giá phải khoa học, chính xác. - Các giải pháp đưa ra phải khả thi phù hợp với điệu kiện tự nhiên kinh tế của địa phương.
- Đưa ra được những hướng đi và đề ra được các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế hộ nông dân, đề xuất các biện pháp canh tác các mô hình sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững nhằm cải thiện môi trường đất trên địa bàn xã. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Cung cấp thêm tài tiệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý để có thêm những hướng đi trong canh tác và bảo vệ môi trường.
Ý nghĩa thực tiễn - Góp phần hoàn thiện lý luận về đánh giá hiện trạng môi trường nói chung và ảnh hưởng của biện pháp canh tác và bảo vệ môi trường nói riêng. - Góp phần nâng cạo hiệu quả sử dụng đất, khai thác được những thế mạnh về đất tại địa phương nhằn năng cao mức thu nhập của người dân. - Góp phần xây dựng những giải pháp những mô hình sử dụng đất phù hợp nhằm sử dụng hợp lý và có hiệu quả về tài nguyên đất trên địa bàn xã. 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học của đề tài 2. Một số khái niệm Khái niệm về môi trƣờng Hiện nay, môi trường là một lĩnh vực khoa học đã và đang được nhiều nhà bác học quan tâm, nghiên cứu, từ đó đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về môi trường. Tuy có nhiều quan điểm và mục đích nghiên cứu về môi trường khác nhau, nhưng cũng có thể nêu lên một số định nghĩa tổng quát: Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và và phát triển của mỗi sinh vật [4]. Môi trường là tổng các điều kiện bên ngoài, có ảnh hưởng đến sự phát triển hay tồn tại của một sinh vật hay một cộng đồng.
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [19]. Khái niệm về ô nhiễm môi trƣờng Ô nhiễm môi trường được hiểu là sự có mặt của các chất hoặc năng lượng với khối lượng lớn trong môi trường mà môi trường khó chấp nhận. Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi, gây tác hại tới đời sống của con người và sinh vật khác [6]. Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật [19].
Ô nhiễm môi trường bao gồm các dạng ô nhiễm chính:Môi trường đất, nước , không khí, tiếng ồn …Ô nhiễm đất là sự biến đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp với 6 những phương thức canh tác khác nhau, và do thải bỏ không hợp lý các chất cặn bã đặc và lỏng vào đất, ngoài ra ô nhiễm đất còn do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm không khí lắng xuống đất ( theo mùa mưa ). Khái niệm chất gây ô nhiễm Chất gây ô nhiễm là những chất không có trong tự nhiên hoặc vốn có trong tự nhiên nhưng nay có hàm lượng lớn hơn và gây tác động có hại cho môi trường tự nhiên, cho con người cũng như sinh vật sống. Chất gây ô nhiễm có thể là do các hiện tượng tự nhiên sinh ra gây ô nhiễm trong phạm vi nào đó của môi trường (ví dụ: Núi lửa, cháy rừng, bão lụt….) hoặc do các hoạt động của con người gây nên (ví dụ: Hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, sinh hoạt đô thị [4]. Tác động của hệ thống sản xuất đến môi trường đất Những biện pháp phổ biến là: - Tăng cường sử dụng các chất hóa học trong nông nghiệp như: Phân bón thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ - Sử dụng các chất điều khiển sinh trưởng để giảm bớt thất thoát mùa màng và thuận lợi cho thu hoạch.
- Sử dụng công cụ và kỹ thuật hiện đại. - Mở rộng mạng lưới tưới tiêu.