Mở đầu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và Mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Phân tích số liệu - Chương 5: Kết luận 1.6 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU Mục tiêu nghiền cứu K Cơ sở lý thuyết S Nghiên cứu sơ bộ Ñ Nghiên cứu chính thức tr Báo cáo nghiên cứu Hình 1.1 Quy trình nghiên cứu CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm dịch vụ và đặc điểm của dịch vụ Dịch vụ là một loại hàng hóa kinh tế đặc biệt, vô hình, khác biệt so với các sản phẩm hàng hóa hữu hình khác. Các nhà nghiên cứu có quan điểm khác nhau về dịch vụ, nghiên cứu nảy giới thiệu một số khái niệm được trích dẫn sử dụng bởi nhiều nhà nghiên cứu khác nhau như sau: Theo Zeithaml va Britner (2000), dich vụ là hành vi, qua trình, cách thức thực hiện một công việc nao đó nhằm tao ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Lovelock (2001) (dẫn theo Oliveira, 2010), dịch vụ là hoạt động kinh té tạo gia tri và cung cấp lợi ích cho khách hàng tại thời gian cụ thể và địa điểm cụ thể như là kết quả của một sự thay đổi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận (sử dụng) dịch vụ. Theo Kotler và Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thé cống hiến cho khách hang nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng.
Theo Mairelles (2006) (dẫn theo Oliveira, 2010), một dịch vụ mang tính chất vô hình và chỉ đánh giá được khi kết hợp với các chức năng khác là các quá trình sản xuất và các sản phẩm hữu hình. Như vậy có thé hiểu dịch vụ là những hoạt động tạo ra lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cau của khách hàng về một hoạt động nao đó. Các nhà nghiên cứu có thé có cách định nghĩa dịch vụ khác nhau tuy nhiên thống nhất với nhau về tính chất dịch vụ. Sách “Quản trị chất lượng trong tổ chức” của Nguyễn Dinh Phan, Trương Doan Thể và Dang Ngọc Sự (2006) đưa ra một số đặc điểm của dịch vụ như sau: - Tính vô hình: Sản phẩm dịch vu là sản phẩm mang tinh vô hình, chúng không có hình thái rõ rệt, người sử dụng không thể thấy nó hoặc cảm nhận vẻ nó trước khi sử dụng.
Khách hàng chỉ có thé cảm nhận về chất lượng dịch vụ khi họ sử dụng nó, tương tác với nó và không thể biết trước chất lượng dịch vụ. Hay nói cách khác chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào cảm nhận chủ quan của người sử dụng, rất khó để có thé đo lường một cách chính xác bằng các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thé. - Tính không đồng nhất: Chất lượng dịch vụ không có tính đồng nhất giữa các thời điểm thực hiện dịch vụ và nó còn phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân của khách hàng về dịch vụ. Cùng một chu trình cung cấp dịch vụ nhưng cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng tại những thời điểm khác nhau có thể khác nhau, cảm nhận cùng một dịch vụ của các cá nhân khác nhau có thé khác nhau.
dich vụ có thé được đánh giá từ mức kém đến mức hoan hảo bởi những khách hàng khác nhau phụ thuộc vào ky vọng của ho. Do đặc điểm về tính không đồng nhất của dịch vu lam cho việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với việc tiêu chuẩn hóa sản phẩm hữu hình khác. - Tính không thé tách rời: Tính không thể tách rời của dịch vụ được thê hiện ở sự khó khăn trong việc phân biệt giữa việc tạo thành dịch vụ và việc sử dụng dịch vụ như là hai công việc hay hai quá trình riêng biệt. Một dịch vụ không thể tách bạch được thành hai quá trình riêng biệt là (1) quá trình tạo thành dịch vu và (2) quá trình sử dụng dịch vụ, chúng là đồng thời với nhau.
Sự tạo thành và sử dụng của hầu hết các dịch vụ là diễn ra đồng thời với nhau. Đây là sự khác nhau cơ bản với hàng hóa hữu hình khác: Hàng hóa được sản xuất và đưa vào lưu trữ hoặc chuyển giao qua phân phối dé tới tay người sử dung, chúng là hai quá trình riêng biệt có thé tach rời một cách rõ ràng. Dịch vụ lại là một quá trình việc tạo ra, sử dụng là đồng thời, khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tham gia trong suốt quá trình tạo ra dịch vụ. Điều này làm nảy sinh các vẫn đề về tính không lưu trữ được và tính đồng thời.
- Tính không lưu trữ được: Dịch vụ có quá trình sản xuất và sử dụng diễn ra đồng thời vì vậy nó không thể lưu trữ được như các hàng hóa hữu hình khác. Nói cách khác ta không thê cất trữ và lưu kho dịch vụ trước khi đem ra lưu thông được. - Tính đồng thời: Tính đồng thời của dịch vụ được thể hiện qua việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời với nhau. Không thể tách rời quá trình sản xuất với quá trình tiêu dùng được.2 Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ (Parasuraman, 1988).
Chất lượng dịch vụ không được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau. Có thé nói nó là một khái niệm nhiều khía cạnh. Parasuraman và cộng sự (1985) đưa ra mười khía cạnh của chất lượng dịch vụ bao gồm: - Sự tin cậy - Khả năng đáp ứng - Năng lực phục vụ - Tiếp cận - Lịch sự - Giao tiếp - Tín nhiệm - Độ an toàn - Hiểu biết khách hàng - Phương tiện hữu hình Từ 10 khía cạnh nay các nghiên cứu tiếp theo được rút về 5 yếu tố chính (Parasuraman và cộng sự, 1988, 1991) của chất lượng dịch vụ bao gồm: (1) Sự tin cậy (Reliability); Thể hiện khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp va đúng thời hạn ban đầu. (2) Sự đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện sự mong muốn và sẵn lòng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.
(3) Năng lực phục vụ (Assurance): Tính chuyên nghiệp của nhân viên phục vụ (4) Sự đồng cam (Empathy): Thể hiện sự quan tâm của nhân viên đối với khách hàng (5) Phương tiện hữu hình (Tangibles): Trang phục, ngoại hình của nhân viên và trang thiết bị phục vụ cho dịch vụ. Như vậy có thé thay rang chất lượng dịch vụ là một khái niệm bao hàm nhiều khía cạnh, nó là một chỉ tiêu tong hợp của các nhân tố khác nhau. Trong những lĩnh vực dich vụ khác nhau nó lại được đo lường bởi những yếu tô khác nhau.3 Sự hài lòng của khách hàng Sự hài lòng của khách hang lần dau tiên được biết đến trong khoa học từ những năm 70, bởi Day và Hunt. Dựa trên mô hình sự tương thích và không tương thích giữa kỳ vọng lý thuyết và chất lượng dịch vụ hay hiệu suất của dịch vụ, Oliver (1980) định nghĩa sự hai lòng khách hàng là quá trình so sánh giữa các biến nêu trên.
Một số tác giả cho rằng chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng không có sự khác biệt và đều có xu hướng chuyền thành thái độ theo thời gian (vi dụ, Llosa, 1996). Tuy nhiên, phan lớn nghiên cứu chứng minh rang chất lượng dich vụ là tiền t6 của sự hai lòng khách hàng. Các nghiên cứu khuyến khích xem xét mối quan hệ giữa hai khái niệm này để hiểu rõ hơn đánh giá của người tiêu dùng (Cronin & Taylor, 1992). Sự hài lòng của khách hàng là chủ dé quan trong trong ngành nhà hang, vì khả năng đánh giá chính xác sự hài lòng của khách hang và việc áp dụng kiến thức là điểm khởi đầu quan trọng cho việc thiết lập và duy trì năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu sự hai lòng của khách hàng là điều cần thiết không chỉ vì nó cung cấp thông tin quản lý rất quan trọng, mà còn bởi nó cho phép truyền thông với khách hảng. Sự hai lòng được đo băng sự nhận thức của khách hàng vẻ giá trị tiền bạc, thời gian và công sức (Oliver & Swan, 1989; Yuan & Jang, 2008). Việc không thực hiện các yêu câu tối thiểu có thể gây ra sự bất mãn, trong khi hoàn thành hoặc vượt quá không nhất thiết dẫn đến sự hài lòng. Yếu tố hiệu suất dẫn đến sự hài lòng nếu mức độ hiệu suất cao và sự không hài lòng nếu mức hiệu suất thấp (Fuller & Metzler, 2008).
Ly thuyết nay đã được xác nhận bởi các nghiên cứu thực nghiệm (ví du, Fuchs, 2004; Matzler & cộng sự, 2006) và có thé cung cấp một quan điểm bố sung cho hiểu biết về ảnh hưởng của các thuộc tính về sự hài lòng của khách hang. Mattila (2001) chỉ ba mục tiêu với khách hàng trong lĩnh vực ăn uống bình thường 10 là chất lượng thực phẩm, dịch vụ và không khí. Cụ thé, chất lượng thực phẩm là thuộc tính quan trọng nhất của tong thé chat luong dich vu nha hang va du kién sé có một mỗi quan hệ tích cực với sự hai lòng của khách hàng. Ting (2004) cho rằng chất lượng dịch vụ tốt hơn giải thích sự hải lòng của khách hàng và các hệ số chất lượng dịch vụ cho khách hàng sự hài lòng lớn hơn hệ số sự hài lòng của khách hàng.
Sự hài lòng chung về dịch vụ được xem xét như một biến riêng trong mối quan hệ với các thành phân chất lượng dịch vụ (Atilgan & cộng sự, 2003; Chow & Luk, 2005; Mostafa, 2005; Ahuja, Mahlawat, & Masood, 2011; Chakraborty & Majumdar, 2011; Ahmad & Samreen, 2011; Zarei & cộng su, 2012).4 Mối quan hệ giữa chat lượng dịch vu va sự hài long của khách hàng Các nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vu và sự hài lòng khách hang có mối quan hệ mật thiết với nhau, chất lượng dịch vụ là nguyên nhân và sự hài lòng là kết quả (ví dụ: Spreng, 1996 ; Atilgan va cộng sự, 2003 ; Chow & Luk, 2005; Amad & Samreen, 2011). Quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng là quan hệ cùng chiều, chất lượng dịch vụ có ảnh hưởng tích cực đến cảm nhận của khách hang. Theo Zeithaml va Bitner (2000), chất lượng dich vu và hai lòng khách hàng là hai khái niệm khác nhau, trong khi chất lượng dịch vụ chỉ tập trung cụ thé vào những thành phan của dịch vụ, hai lòng khách hang là khái niệm tổng quát. Theo Cronin và Taylor (1992) và Spreng (1996) cho rằng giữa chất lượng dịch vụ và hài lòng khách hàng có mối liện hệ với nhau.