CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH ðỀ NGHỊ NGHIÊN CỨU 1. CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ Kinh tế học ñịnh nghĩa dịch vụ như sau: dịch vụ là những dạng như hàng hoá nhưng phi vật chất. Bản chất của dịch vụ là sự cung cấp ñể ñáp ứng nhu cầu như mua sắm, du lịch, giải trí… và mang lại lợi nhuận.
Theo ñịnh nghĩa của Kotler và Amstrong (2004) dịch vụ là “Mọi hành ñộng và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia mà chủ yếu là vô hình và không dẫn ñến quyền sở hữu cái gì ñó. Sản phẩm của nó có thể có hay không gắn liền với sản phẩm vật chất”. Theo Gronroos (1990) thì dịch vụ là một hoạt ñộng ñặc chuỗi các hoạt ñộng ít nhiều có tính chất vô hình trong ñó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào ñó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn nhu cầu và mong ñợi của khách hàng (theo Ziethaml và Britner, 2000).
Tóm lại dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt ñộng tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt ñộng nội bộ của người cung ứng ñể ñáp ứng nhu cầu của khách hàng. ðặc ñiểm dịch vụ Dịch vụ là một loại sản phẩm ñặc biệt, có nhiều ñặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không ñồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể cất giữ. Chính những ñặc ñiểm này làm cho dịch vụ trở nên khó ñịnh lượng và không nhận dạng bằng mắt thường ñược. 9 Tính không hiện hữu ðây là ñặc ñiểm cơ bản của dịch vụ.
Với ñặc ñiểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Tuy vậy sản phẩm dịch vụ mang nặng tính vật chất. Tính không hiện hữu ñược biểu lộ khác nhau ñối với từng loại dịch vụ. Nhờ ñó người ta có thể xác ñịnh ñược mức ñộ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức ñộ trung gian giữa dịch vụ và hàng hóa hiện hữu.
Trên thực tế từ hàng hóa hiện hữu tới dịch vụ phi hiện hữu có 4 mức ñộ sau: - Hàng hóa hiện hữu hoàn hảo. - Hàng hóa hoàn hảo: bao gồm hàng hóa hiện hữu khi tiêu dùng phải có dịch vụ ñi kèm ñể tăng sự thỏa mãn. - Dịch vụ chủ yếu, ñược thỏa mãn thông qua sản phẩm hàng hóa hiện hữu. - Dịch vụ hoàn hảo: hoàn toàn không hiện hữu.
ðể nhận biết dịch vụ thông thường phải tìm hiểu qua những ñầu mối vật chất trong môi trường hoạt ñộng dịch vụ. Tính không ñồng nhất Việc thực hiện dịch vụ thường khác nhau tùy thuộc vào cách thức phục vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian thực hiện, lĩnh vực phục vụ, ñối tượng phục vụ và ñịa ñiểm phục vụ. Việc ñánh giá chất lượng dịch vụ hoàn hảo hay yếu kém khó có thể xác ñịnh dựa vào một thước ño chuẩn mà phải xét ñến nhiều yếu tố liên quan khác trong trường hợp cụ thể. Tính không thể tách rời Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện ở việc khó có thể phân chia dịch vụ thành hai giai ñoạn rạch ròi là giai ñoạn sản xuất và giai ñoạn sử dụng.
Dịch vụ ñược tiêu dùng khi nó ñang ñược tạo ra và khi quá trình cung 10 ứng kết thúc cũng ñồng nghĩa với việc tiêu dùng dịch vụ ấy dừng lại. Sự cung cấp và sử dụng dịch vụ thông thường diễn ra ñồng thời cùng lúc với nhau. Tính không thể cất trữ Dịch vụ không thể cất trữ, lưu kho rồi ñem bán như hàng hóa khác. Chúng ta có thể ưu tiên thực hiện dịch vụ theo thứ tự trước sau nhưng không thể ñem cất dịch vụ rồi sau ñó ñem ra sử dụng vì dịch vụ thực hiện xong là hết, không thể ñể dành cho việc “tái sử dụng” hay “phục hồi” lại.
Chính vì vậy, dịch vụ là sản phẩm ñược sử dụng khi tạo thành và kết thúc ngay sau ñó. Sản phẩm dịch vụ cũng không thể hoàn trả, thu hồi hay bán lại. Chất lượng dịch vụ a. Khái niệm Trong lĩnh vực siêu thị, các doanh nghiệp có ít lợi thế tuyệt ñối cạnh tranh về chất lượng sản phẩm mà ñơn vị mình cung cấp mà phải cạnh tranh quyết liệt về chất lượng dịch vụ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của siêu thị mình.
Có nhiều ñịnh nghĩa chất lượng dịch vụ, tùy thuộc vào ñối tượng nghiên cứu và môi trường nghiên cứu. Chất lượng dịch vụ là một thành phần quan trọng của nhận thức khách hàng về dịch vụ. Khách hàng cảm nhận dịch vụ là về chất lượng của nó và làm thế nào ñể khiến họ hài lòng, tất cả ñòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải có nhiều kinh nghiệm (Zeithaml, 2000). Như vậy, chất lượng dịch vụ ñược ñịnh nghĩa là nhận thức của khách hàng về một dịch vụ ñược ñáp ứng hoặc vượt quá mong ñợi của họ như thế nào (Czepiel, 1990).
Khi khách hàng ñánh giá dịch vụ bán lẻ, họ so sánh cảm nhận về các dịch vụ mà họ nhận ñược ñúng với mong ñợi của họ. Khách hàng hoàn toàn hài lòng khi cảm nhận dịch vụ ñược ñáp ứng hoặc vượt quá mong ñợi của họ. Họ không hài lòng khi cảm thấy các dịch vụ giảm xuống dưới mong ñợi của họ (Levy và Weitz, 2005). 11 Theo Edvardsson và cộng sự (1994) cho rằng: “Chất lượng dịch vụ là dịch vụ ñáp ứng ñược sự mong ñợi của khách hàng và làm thoả mãn nhu cầu của họ”.
Parasuraman, Zeithaml và Berry (dẫn theo Nguyễn ðình Thọ và cộng sự, 2003) ñã ñịnh nghĩa chất lượng dịch vụ là khoảng cách mong ñợi về sản phẩm dịch vụ của khách hàng và nhận thức, cảm nhận của họ khi sử dụng qua các sản phẩm dịch vụ ñó. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu ñã cố gắng ñịnh nghĩa và ño lường chất lượng dịch vụ. Lấy ví dụ, Lehtinen & Lehtinen (1982) cho là chất lượng dịch vụ phải ñược ñánh giá trên hai khía cạnh (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Gronroos (1984) cũng ñề nghị hai thành phần của chất lượng dịch vụ, ñó là (1) chất lượng kỹ thuật, là những gì mà khách hàng nhận ñược và (2) chất lượng chức năng, diễn giải dịch vụ ñược cung cấp như thế nào.
Tuy nhiên, khi nói ñến chất lượng dịch vụ, chúng ta không thể nào không ñề cập ñến ñóng góp rất lớn của Parasuraman & cộng sự (1988, 1991). Parasuraman & cộng sự (1988, trang 17) ñịnh nghĩa chất lượng dịch vụ là “mức ñộ khác nhau giữa sự mong ñợi của người tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả của dịch vụ”. Các tác giả này ñã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu ñịnh tính và ñịnh lượng ñể xây dựng và kiểm ñịnh thang ño các thành phần của chất lượng dịch vụ (gọi là thang ño SERVQUAL). Như vậy, chất lượng dịch vụ ñứng trên quan ñiểm của khách hàng là một khái niệm mang tính cảm tính và thường gắn với “sự cảm nhận” và “sự hài lòng” của khách hàng.
ðặc ñiểm của chất lượng dịch vụ Tính vượt trội: ðối với khách hàng, dịch vụ có chất lượng là dịch vụ thể hiện ñược tính vượt trội của mình so với những sản phẩm khác. Sự ñánh 12 giá về tính vượt trội của chất lượng dịch vụ chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự cảm nhận từ phía người sử dụng dịch vụ. Tính ñặc trưng: Chất lượng dịch vụ là tổng thể những mặt cốt lõi nhất và tinh túy nhất kết tinh trong sản phẩm dịch vụ tạo nên nét ñặc trưng của sản phẩm dịch vụ. Vì vậy, dịch vụ hay sản phẩm có chất lượng cao sẽ chứa nhiều ñặc trưng vượt trội hơn so với các dịch vụ thấp.
Sự phân biệt này gắn liền với việc xác ñịnh các thuộc tính vượt trội hữu hình hay vô hình của sản phẩm dịch vụ. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó xác ñịnh các ñặc trưng cốt lõi của dịch vụ một cách ñầy ñủ và chính xác. Vì vậy, các ñặc trưng này chỉ mang tính tương ñối giúp việc nhận biết chất lượng dịch vụ trong trường hợp cụ thể ñược dễ dàng hơn mà thôi. Tính cung ứng: Chất lượng dịch vụ gắn liền với quá trình thực hiện, chuyển giao dịch vụ ñến khách hàng.
Do ñó việc triển khai dịch vụ, phong thái phục vụ và cách cung ứng dịch vụ sẽ quyết ñịnh chất lượng dịch vụ tốt hay xấu. ðây là yếu tố bên trong phụ thuộc vào sự biểu hiện của nhà cung cấp dịch vụ. Vì vậy ñể nâng cao chất lượng dịch vụ, nhà cung cấp phải biết cải thiện yếu tố nội tại này ñể tạo thế mạnh lâu dài trong hoạt ñộng cung cấp dịch vụ cho khách hàng. Tính thỏa mãn nhu cầu: Dịch vụ tạo ra nhằm ñáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Do ñó, chất lượng dịch vụ nhất thiết phải lấy yêu cầu của khách hàng làm căn cứ ñể cải thiện chất lượng dịch vụ. Nếu khách hàng cảm thấy dịch vụ không ñáp ứng ñược nhu cầu thì họ sẽ không hài lòng. Vì vậy, các nhà cung cấp dịch vụ phải luôn hướng ñến nhu cầu khách hàng và cố gắng cải thiện mình ñể ñáp ứng nhu cầu ñó. Tính tạo ra giá trị: Chất lượng dịch vụ gắn liền với các giá trị tạo ra nhằm phục vụ khách hàng.
Dịch vụ không sản sinh ra giá trị nào hết thì ñược xem là không có chất lượng. Các giá trị ñem lại cho khách hàng thì phụ thuộc vào cách ñánh giá của khách hàng. Hay nói cách khác, tính giá trị của chất 13 lượng dịch vụ cũng bị chi phối nhiều bởi yếu tố bên ngoài (khách hàng) hơn là yếu tố nội tại. Chất lượng dịch vụ cao là dịch vụ tạo ra các giá trị không phải chỉ ñáp ứng nhu cầu của khách hàng mà còn vượt hơn hẵn các mong muốn của khách hàng và làm cho công ty có thế mạnh hơn so với ñối thủ cạnh tranh.
Các mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ * Mô hình chất lượng dịch vụ SERVQUAL (1988) Parasuraman và cộng sự (1985, 1988) ñưa ra mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ sử dụng 05 thành phần gọi tắt là SERVQUAL gồm: (01) sự tin cậy, (02) hiệu quả phục vụ, (03) sự hữu hình, (04) sự ñảm bảo và (05) sự cảm thông. Kết quả nghiên cứu nhằm nhận ra các khoảng cách giữa cảm nhận khách hàng về chất lượng dịch vụ do doanh nghiệp thực hiện và kỳ vọng của khách hàng ñối với chất lượng dịch vụ ñó.