CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG,THẤM VÀ XỬ LÝ CHỐNG THẤM QUA ĐẬP VÀ NỀN.TƯỜNG HÀO XI MĂNG – BENTONITE. Tổng quan về hồ đập của Việt Nam. Việt Nam, với nền nông nghiệp chủ yếu là lúa nước, điều kiện thiên nhiên vô cùng khắc nghiệt, hạn hán, lũ lụt xảy ra thường xuyên. Vì vậy, công tác thủy lợi có vị trí vô cùng quan trọng, là một trong những ngành có truyền thống được xây dựng và phát triển lâu đời, có nhiều thành tựu quan trọng gắn liền với lịch sử phát triển đất nước.
Nhiều công trình thủy lợi đã để lại những dấu ấn về ý chí kiên cường của dân tộc Việt Nam trong quá trình chinh phục thiên nhiên, khoa học kỹ thuật Thủy lợi, góp phần chiến thắng mọi thiên tai. Hầu hết các đập tạo hồ chứa được xây dựng ở nước ta là đập đất, trong đó phần lớn các đập nhỏ được xây theo hình thức đập đồng chất ,mái thương lưu được bảo vệ bằng tấm bê tông hoặc đá xếp, mái hạ lưu bảo vệ bằng trồng cỏ trong các ô có đổ sỏi đá để thoát nước thân đập. Đập vật liệu địa phương là loại đập được xây dựng bằng các loại đất hiện có trong khu vực xây dựng công trình như : sét, á sét, á cát, sỏi cuội.Đập đất có cấu tạo đơn giản, vững chắc, có yêu cầu chất lượng của nền đối với đập không cao lắm, có khả năng cơ giới hóa cao khi thi công và trong đa số trường hợp có giá thành thấp nên là loại đập được ứng dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Hiện nay thế giới có khoảng bốn trăm ngàn đập được xây dựng trong đó đập đất chiếm trên 70% còn lại là các loại đập khác như đập đá đổ, đập bê tông trọng lực.
Các vấn đề mất an toàn do thấm qua đập và nền, nguyên nhân và các biện pháp xử lý. Thấm qua đập đất Sự chuyển động của chất lỏng ( nước, dầu, hơi nước.) trong đất, trong đá nứt nẻ hoặc trong môi trường xốp nói chung gọi là thấm. Thấm có ý nghĩa rất lớn trong việc xây 3 dựng và khai thác những công trình thủy lợi nói chung và riêng đối với đập đất thì thấm lại càng có ý nghĩa đặc biệt. Đập đất là một loại công trình dâng nước được làm bằng vật liệu xốp, nó được đánh giá là bền và chịu chấn động tốt so với các loại đập khác, tuy nhiên trong quá trình làm việc do tác động của các yếu tố tự nhiên và yếu tố sử dụng của con người đã xảy ra tình trạng hư hỏng tại nhiều đập đất với nhiều mức độ khác nhau.
Nguyên nhân chính có thể kể đến là do hiện tượng thấm qua nền đập, vai đập, và thân đập gây ra tác hại của dòng thấm thật là khó lường, nó không chỉ làm mất nước đối với các công trình trữ nước mà còn làm giảm ổn định của các công trình và nền như : đẩy nổi, đẩy trượt, trôi đất, xói ngầm, trượt nền.Theo kết quả thống kê trên thế giới nguyên nhân lớn nhất gây nên sự cố ở các đập vật liệu địa phương là do dòng thấm gây ra, nó chiếm khoảng 35% - 40% tổng số các nguyên nhân gây hư hỏng công trình. Thấm là tình trạng xảy ra phổ biến ở các đập đất, nhiều hồ chứa bị thấm rất nghiêm trọng mà việc xử lý lại khó khăn, tốn kém, gây tổn thất lớn về kinh tế như đập Dầu Tiếng – Tây Ninh, Ea Soup Thượng – Đắk Lắk.Hiện tượng thấm qua đập đất có thể xảy ra ngay sau khi công trình mới được hoàn thành đưa vào sử dụng hoặc sau một vài năm làm việc.1: Thấm ngang thân đập đồng chất 4 Hình 1.2: Thấm bùng nhùng ngang thân đập 1. Nguyên nhân thấm qua thân và nền đập đất. - Nguyên nhân khách quan : Đất là môi trường xốp, có lỗ rỗng cho nên nước có thể len lỏi theo các lỗ rỗng mà thấm qua.
Khả năng thấm nước của đất được đặc trưng bởi hệ số thấm k, đối với những loại đất khác nhau có hệ số thấm khác nhau. Khi đắp đập thường sinh ra mặt tiếp giáp giữa thân và nền đập do đặc trưng cấu tạo của hai môi trường có tính cơ lý khác nhau như về hệ số thấm, cấp phối hạt, độ chặt., nền đập có thể là đá cứng. Vì vậy sẽ xuất hiện dòng thấm chảy theo mặt tiếp giáp giữa thân và nền đập.Ngoài ra, dòng thấm còn xuất hiện dưới nền đập nếu nền là đất, cuội sỏi hay đá nứt nẻ. - Nguyên nhân chủ quan : Trong hồ sơ thiết kế, người thiết kế chưa đưa ra được biện pháp xử lý tối ưu về hiện tượng thấm qua thân và nền đập; còn trong quá trình thi công, nhà thầu thi công không tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật cũng như quy trình thi công và các yêu cầu trong hồ sơ thiết kế đã được phê duyệt, dẫn đến là trong thân đập tồn tại những khu vực thấm mạnh như mặt tiếp giáp giữa các lớp không được xử lý tốt, các khu vực đầm sót, đầm dối.
Các biện pháp chống thấm cho đập đất. Chống thấm cho những công trình mới xây dựng Khi thiết kế xây dựng những đập đất mới, nếu mức độ thấm của vật liệu đất đắp đập hoặc địa chất nền đập không đảm bảo về lưu lượng thấm qua thân đập và qua nền trong phạm vi cho phép thì người thiết kế sẽ áp dụng một số biện pháp chống thấm phổ biến sau đây nhằm khắc phục các yếu tố này. a) Chống thấm cho thân đập : Vật chống thấm cho thân đập thường có dạng lõi giữa hoặc tường nghiêng có thể dùng vật liệu dẻo hoặc vật liệu cứng.Đối với các đập đất khi thiết kế xây dựng mới, khi cần thiết phải dùng vật chống thấm thì hầu như nhà thiết kế đều dùng vật liệu chống thấm cho thân đập là vật liệu dẻo vì nó có nhưng ưu điểm nổi trội và phù hợp với đập hơn vật liệu cứng như: có khả năng biến dạng, khả năng liên kết với phần thân đập tốt hơn, không yêu cầu cao về địa chất nền. − Đập đất có tường lõi mềm Lõi giữa bằng đất sét có hệ số thấm nhỏ có dạng thẳng đứng nằm chính giữa hoặc gần như chính giữa thân đập.Theo cấu tạo bề dày đỉnh tường lõi không nhỏ hơn 0,8cm, độ dày chân tường không nhỏ hơn 1/10 cột nước nhưng phải đảm bảo ≥ 2m.
Đỉnh tường lõi phải đảm bảo không cho nước phía thượng lưu vượt quá đồng thời phải cao hơn mực nước mao dẫn trong đất với độ vượt cao δ = (0,3 ÷ 0,6)m tùy theo cấp công trình. Việc liên kết giữa tường lõi mềm và nền cần phải đặc biệt lưu ý.Nếu nền là đất không thấm hoặc thấm ít thì lõi tròn sâu xuống tầng đất nền phải lơn hơn từ 0,5 ÷ 1,25m. Bộ phận nối tường lõi và nền đá phải làm rất cẩn thận với các hình thức như đế răng, hoặc tường răng bêtông cắm sâu vào khối đá tốt 0,6 ÷ 1,2m.3: Đập có tường lõi mềm 6 ∗ Ưu điểm : - Chống chấn động tốt, dễ lún đều. - Khả năng chống thấm tốt.
- Ổn định trong trường hợp nền bị biến dạng nhiều. ∗ Nhược điểm : - Yêu cầu một lượng sét lớn nên sẽ gây khó khăn nếu trong vùng đắp đập khan hiếm đất sét. - Kỹ thuật thi công phức tạp. - Có thể bị nứt đập tại mặt tiếp xúc giữa hai loại vật liệu do đặc tính trương nở và co ngót của đất sét khác với đất đắp đập.
- Khi bị hư hỏng khó sửa chữa. ∗ Phạm vi ứng dụng : - Chủ yếu dùng cho những đập đất tương đối cao và trong vùng đắp đập có nhiều đất sét. − Đập có tường nghiêng mềm : Tường nghiêng có tác dụng chống thấm cho thân đập, hạ thấp đường bão hòa xuống rất nhanh, làm cho đại bộ phận đất ở thân đập được khô ráo và tăng them tính ổn định cho mái ở hạ lưu.Thường được đặt ở sát mái thượng lưu đập và được làm bằng đất sét, đất thịt ít thấm nước. Bề dày tường nghiêng phụ thuộc các yêu cầu cấu tạo và gradien thủy lực cho phép của đất đắp tường.
Kích thước tường nghiêng có thể tăng dần từ đỉnh xuống đáy và phụ thuộc vào cột thấm. Bề dày đỉnh tường không nên nhỏ hơn 0,8m. Chân tường không nhỏ hơn H/10 ( H – cột nước tác dụng ), và không nên nhỏ hơn 2 ÷ 3m. Độ vượt cao của đỉnh tường nghiêng trên mực nước dâng bình thường ở thượng lưu được dựa theo cấp công trình δ =0,5 ÷ 0,8m.Đỉnh tường không được thấp hơn mực nước tĩnh gia cường.
Để tránh hiện tượng nứt nẻ do thay đổi thời tiết ( nhiệt độ ) cần phải có lớp bảo vệ ở mặt ngoài ( thượng lưu ) với độ dày khoảng 1m. Vật liệu làm lớp bảo vệ phải biến dạng 7 và thấm nước tốt như đất cát, đất cuội sỏi. Mái dốc của tường nghiêng có thể song song với mái dốc thân đập hoặc lớn hơn nhưng phải đảm bảo ổn định.Mặt tiếp xúc giữa tường nghiêng và phần đất thân đập cũng như lớp bảo vệ phải bố trí tầng lọc ngược để đề phòng hiện tượng xói ngầm cho vật chống thấm do dòng thấm có độ chênh lệch cột nước lớn. Nếu nền đập là nền đá thì liên kết tường nghiêng với nền bằng các răng chống thấm.
Khi nền bị nứt nẻ và thấm nước nhiều sẽ xử lý bằng phụt vữa chống thấm.4: Đập có tường nghiêng mềm ∗ Ưu điểm : - Hạ thấp đường bào hòa xuống rất nhanh,làm cho đại bộ phận đất ở thân đập được khô ráo và tăng them tính ổn định cho mái hạ lưu. - Thi công, sửa chữa dễ dàng. ∗ Nhược điểm : - Lớp bảo vệ và tường nghiêng dễ bị mất ổn định do trượt. b) Chống thấm cho nền đập : Do đập đất được xây dựng trên nền thấm nước và khi mực nước thượng lưu dâng cao trong thân đập sẽ hình thành dòng thấm từ thượng lưu về hạ lưu.
Vì vậy, cần phải có nhưng biện pháp xử lý chống thấm cho nền đập nhằm hạn chế sự mất nước đồng thời đề phòng biến dạng thấm trong nền đập.Hình thức chống thấm trong nền đập phụ thuộc vào loại đập, chiều sâu tầng nền thấm nước và địa chất của nền.