Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn khai thác SPAT biển phục vụ KDL tại Nha Trang, Khánh Hòa. Thực trạng khai thác SPAT biển phục vụ KDL tại Nha Trang, Khánh Hòa. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chương 3.
Giải pháp khai thác SPAT biển phục vụ KDL tại Nha Trang, Khánh Hòa. Đóng góp của luận văn Luận văn đóng góp vào việc hoàn thiện hệ thống lý luận về SPAT biển trong phát triển du lịch tại Nha Trang, Khánh Hòa và là nguồn tư liệu hữu ích cho những ai có quan tâm, nghiên cứu về SPAT biển trong phát triển du lịch và DLAT tại TP Nha Trang. Luận văn hi vọng làm rõ hơn tầm quan trọng của SPAT biển trong phát triển du lịch thông qua nghiên cứu, khảo sát để đưa ra những nhận định, đánh giá về thực trạng SPAT biển phục vụ KDL tại Nha Trang, Khánh Hòa. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KHAI THÁC SPAT BIỂN PHỤC VỤ KDL TẠI NHA TRANG , KHÁNH HÕA 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trong phạm vi nguồn tài liệu mà tác giả có điều kiện tiếp xúc, Nghiên cứu SPAT biển phục vụ KDL tại Nha Trang, Khánh Hòa là một vấn đề cấp thiết ở Nha Trang, Khánh Hòa. Nó được đề cập đến trong một số sách nghiên cứu về SPAT biển hay du lịch Nha Trang. Một số thành tựu tiêu biểu như sau: Đầu năm 2000, nhà nghiên cứu Xuân Huy đã cho công bố công trình VHAT và món ăn Việt Nam (Nhà xuất bản Trẻ, 837 trang) trình bày các phong tục, tập quán liên quan tới ăn uống.
Ngoài ra, tác giả Xuân Huy còn giới thiệu các cuốn sách như 35 món tiêu biểu cho "Hương hoa đất Bắc", 32 món tiêu biểu cho "Phong vị miền Trung" và 43 món tiêu biểu cho "hào phóng miền Nam". Tập thể tác giả Trần Quốc Vượng, Mai Khôi. đã cho công bố bộ sách ba tập, dày hơn 1.600 trang, nhan đề Văn hóa ẩm thực Việt Nam. Có thể xem đây là một bách khoa thư giới thiệu và phân tích 130 món ăn miền Bắc từ Hà Nội tới Lạng Sơn, 176 món ăn miền Trung từ Thanh Hóa tới Ninh Thuận, Bình Thuận, và 144 món ăn miền Nam từ Sài Gòn tới Cà Mau.
Nguyễn Phạm Hùng với công trình Văn hóa Du lịch (Nhà xuất bản ĐH Quốc Gia Hà Nội, 2017) đã đề cập đến Ẩm thực trong phát triển du lịch. Công trình nghiên cứu “Nha Trang điểm hẹn” của tác giả Đào Thị Thanh Tuyền (Nhà xuất bản Văn hóa nghệ thuật, 2013) đã giới thiệu nhiều món ăn đặc trưng về ẩm thực Nha Trang và đã trở thành "cẩm nang" cho KDL khi đến Nha Trang. Vai trò của ẩm thực đối với Ngành du lịch Nha Trang cũng được nêu rõ qua bài viết “Khai thác giá trị ẩm thực trong KDDL tại TP Nha Trang” của Đỗ Phương Quyên, 2018. Bài viết nói rõ DVAU chiếm vị trí vô cùng quan trọng trong chuỗi DVDL, đồng thời là nhịp cầu nối văn hóa địa phương với Du khách, tạo sức hấp dẫn mạnh và Du khách luôn sẵn sàng đón nhận.
Nhìn chung, số lượng các công trình nghiên cứu VHAT trong phát triển du lịch khá đa dạng nhưng việc tập trung tìm hiểu SPAT biển phục vụ KDL ở Nha Trang thì không nhiều. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Như vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào khai thác trọn vẹn các đặc trưng đa dạng của SPAT biển phục vụ KDL ở Nha Trang. Chính vì lẽ này, người viết mạnh dạn nghiên cứu SPAT biển ở Nha Trang với mong muốn phục vụ phát triển du lịch. Các khái niệm công cụ (ẩm thực, VHAT, ATDL, DLAT , SPAT biển…) 1.
Ẩm thực “Ẩm thực” vốn là từ gốc Hán Việt. “Ẩm” có nghĩa là uống, “thực”có nghĩa là ăn, ẩm thực là hoạt động ăn uống. Từ ngàn đời xưa dân tộc đã đúc kết nhiều câu thành ngữ, tục ngữ chỉ sự ăn uống và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sự ăn: “Dân dĩ thực vi thiên” (dân lấy ăn làm trời), một số dị bản “dân dĩ thực vi tiên” (dân lấy cái ăn làm đầu); việc ăn uống quan trọng tới mức trời cũng không dám xâm phạm “trời đánh còn tránh miếng ăn”, “có thực mới vực được đạo”, “thực túc binh cường”, “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Không có ăn việc đạo việc đời, triết lý cao siêu đến đâu cũng là hư vô, không ý nghĩa.
Phải đảm bảo lương thực đầy đủ mới có quân hùng tướng mạnh mà đánh thắng quân thù. Như vậy ẩm thực với tính chất thực dụng là SP thoả mãn nhu cầu đói và khát. Dưới góc độ thẩm mĩ, chúng lại là tác phẩm nghệ thuật. Dưới góc độ văn hoá, chúng biểu hiện bản sắc, sắc thái riêng biệt của dân tộc.
VHAT Ăn uống phản ánh trình độ văn hóa, văn minh của dân tộc, trình độ phát triển sản xuất, trình độ phát triển kinh tế của xã hội. Món ăn chứa đựng tiềm tàng sự sinh động và đa dạng về đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, ý thức tín ngưỡng của tầng lớp xã hội, từng vùng miền cư dân khác nhau. Với cách nhìn này, ẩm thực của dân tộc chính là “lăng kính đa chiều” phản chiếu nhiều quá trình, nhiều hiện tượng xã hội của con người. Muốn tìm hiểu văn hóa của từng đất nước, dân tộc hay vùng miền địa phương khác nhau có lẽ nên bắt đầu bằng VHAT.
Từ cách hiểu văn hoá và VHAT như đã trình bày trên, khi xem xét VHAT phải xem xét ở hai góc độ: Văn hoá vật chất (các món ăn) và văn hoá tinh thần (là cách ứng xử, giao tiếp trong ăn uống và nghệ thuật chế biến các món ăn cùng ý nghĩa, biểu tượng, tâm linh. Như Trần Ngọc Thêm đã nói: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com “Ăn uống là văn hoá, chính xác hơn là văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên của con người”. Khái niệm VHAT là khái niệm khá mới mẻ. Tuỳ theo quan điểm góc độ nhìn nhận ta có thể tiếp cận các khái niệm VHAT khác nhau: “VHAT” là những tập quán và khẩu vị của con người, những ứng xử của con người trong ăn uống, những tập tục kiêng kỵ trong ăn uống, những phương thức chế biến bày biện trong ăn uống và cách thưởng thức món ăn.
“VHAT” là tổng hợp những sáng tạo của con người trong lĩnh vực ăn, uống trong suốt quá trình lịch sử được biểu hiện qua các tập quán, thông lệ và khẩu vị ăn uống. Tập quán là thói quen được hình thành từ lâu trong đời sống được lan truyền rộng rãi trong cộng đồng. Tập quán được xem như là một khía cạnh của tính dân tộc, mang bản sắc văn hoá dân tộc. Có những tập quán tốt, tích cực, nhưng cũng có những tập quán lạc hậu, tiêu cực.
Tập quán ăn uống là thói quen đã được hình thành trong ăn uống, được mọi người chấp nhận và làm theo. Tập quán ăn uống phụ thuộc vào phong tục tập quán của địa phương và điều kiện kinh tế. Theo quan điểm của Nguyễn Phạm Hùng (2016) “VHAT” có thể được hiểu là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần của ẩm thực do con người sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với MTTN và MTXH. Nói tới SPAT biển là nói tới sự khái quát có tính chuẩn mực xã hội về ẩm thực, thể hiện ở ba yếu tố cơ bản: Chất liệu ẩm thực (nguyên liệu dùng để chế biến thức ăn, đồ uống) + Phong cách chế biến ẩm thực (cách thức chế biến thức ăn, đồ uống, hay nghệ thuật chế biến ẩm thực) + Cách thức thưởng thức ẩm thực (nghệ thuật thưởng thức ẩm thực).
Đó chính là văn hóa ăn uống hình thành trong cuộc sống nghìn đời của con người. Nó phản ánh rất rõ tính chất và trình độ văn hóa, kinh tế của con người trong các dân tộc khác nhau, các thời kỳ lịch sử khác nhau, và các cộng đồng xã hội khác nhau. VHAT là văn hóa vật thể nhưng mang đậm giá trị phi vật thể. Là giá trị vật thể vì nó được thể hiện bằng các chất liệu vật chất, giá trị phi vật thể của ẩm thực thể hiện trong cách chế biến, trang trí món ăn sao cho đẹp mắt, hay phong cách thưởng thức.
Nét văn hóa phi vật thể của ẩm thực thể hiện ở cách giao tiếp, ứng xử giữa con người 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với con người trong bữa ăn, những nguyên tắc, chuẩn mực, phong tục ăn uống của từng cộng đồng người. Vì thế “ăn uống là văn hóa, chính xác hơn là văn hóa tận dụng môi trường tự nhiên. Và khi việc ăn uống được nâng tầm văn hóa, không chỉ đơn thuần giúp con người tồn tại, mà còn thưởng thức văn hóa ” (17, tr. Theo nhận định của tác giả thì VHAT ở đây được tiếp cận theo hướng: VHAT là cách ăn, kiểu ăn, món ăn của từng dân tộc từng địa phương mà qua đó ta biết được trình độ văn hóa, lối sống, tính cách của con người, dân tộc đó.
VHAT là văn hóa vật thể nhưng mang đậm giá trị phi vật thể. Là giá trị vật thể vì nó được thể hiện bằng các chất liệu vật chất, giá trị phi vật thể của ẩm thực thể hiện trong cách chế biến, trang trí món ăn sao cho đẹp mắt, hay phong cách thưởng thức. Theo Trần Quốc Vượng cho rằng trước tiên đặt con người trong nền sinh thái tự nhiên rồi trải qua diễn trình lịch sử “con Người đã hoá cái văn hoá tự nhiên để thành VHAT”. Con người sống trong quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên do cách thức ứng xử môi trường tự nhiên để duy trì sự sống, sự tồn tại thông qua việc tìm cái ăn, cái uống, từ cách săn bắn, hái lượm trong đó có tự nhiên.
Vì thế “ăn uống là văn hoá, chính xác hơn là văn hoá tận dụng môi trường tự nhiên” [27,tr. Và khi việc ăn uống được nâng tầm, không chỉ đơn thuần giúp con người tồn tại, mà còn thưởng thức, đó là thưởng thức VHAT. Cái hay, cái khéo và cái ngẫu nhiên của ẩm thực là sự xuất hiện tự thân của nó trong quá trình tồn tại của con người.