Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến thuốc nam 1. Thuốc nam Đông dược (bao gồm cả thuốc nam và thuốc bắc) là những vị thuốc kinh nghiệm của ông cha ta, có tác dụng chữa bệnh tốt, thậm chí trị được những bệnh mãn tính, lại dễ tìm, rẻ tiền, sử dụng tương đối dễ dàng, nhưng việc sử dụng chỉ mới dựa vào kinh nghiệm, học thuyết âm dương ngũ hành của triết học phương Đông, phần lớn chưa được giải thích bằng cơ sở khoa học hiện đại [7]. Theo cách hiểu phổ biến hiện nay: Thuốc nam là những loại thuốc, thảo dược xuất phát trên địa bàn lãnh thổ Việt Nam hay còn gọi là “thuốc ta”, để phân biệt với loại thuốc có nguồn gốc và bào chế theo sách của Trung Quốc truyền sang (thuốc bắc).
Thuốc nam, theo định nghĩa ở trên, được nhân dân một số nơi ở miền Nam gọi là “thuốc vườn” vì có thể kiếm quanh vườn [7]. Theo Nguyễn Văn Quý trong cuốn “Thuốc bắc thường dùng” đã phân biệt thuốc nam là cách gọi dân gian ở Việt Nam đối với các loại thuốc được sử dụng trong YHCT của Việt Nam. Cách gọi này để phân biệt với thuốc bắc là thuốc theo YHCT của Trung Quốc [8]. Bài thuốc cổ truyền 1.
Các khái niệm: - Thuốc cổ truyền: là một vị thuốc sống hoặc chín hay một chế phẩm thuốc được phối ngũ (lập phương) và bào chế theo phương pháp của YHCT từ một hay nhiều vị thuốc có nguồn gốc thực vật, động vật, khoáng vật, có tác dụng chữa bệnh hoặc có lợi cho sức khoẻ con người [9]. - Thuốc gia truyền: là những môn thuốc, bài thuốc trị một chứng bệnh nhất định có hiệu quả và nổi tiếng một vùng, một địa phương được sản xuất và lưu truyền lâu đời trong gia đình [9], [10]. 4 - Cổ phương (phương thuốc cổ) là thuốc cổ truyền được ghi trong sách về YHCT của Việt Nam và Trung Quốc từ trước thế kỷ 19, trong đó có ghi số vị thuốc, hàm lượng từng vị, phương pháp bào chế, tác dụng, chỉ định, đường dùng, liều dùng, cách dùng và chỉ định của phương thuốc [10], [11]. - Thuốc cổ phương gia giảm: là thuốc cổ phương có tăng hoặc giảm về số vị thuốc, hàm lượng từng vị thuốc phù hợp với bệnh hoặc chứng bệnh theo lý luận của YHCT nhưng không thay đổi về phương pháp bào chế, đường dùng, liều dùng, cách dùng và các vị thuốc trong công thức thuốc không có sự tương kỵ [12], [13].
- Tân phương (thuốc cổ truyền mới): là thuốc có cấu trúc khác hoàn toàn với cổ phương về: số vị thuốc, lượng từng vị, dạng thuốc, cách dùng, chỉ định [14]. - Dược liệu: là nguyên liệu làm thuốc có nguồn gốc từ thực vật, động vật, khoáng vật và đạt tiêu chuẩn làm thuốc. Thuốc dược liệu là thuốc có thành phần từ dược liệu và có tác dụng dựa trên bằng chứng khoa học [12], [14]. Kết cấu của bài thuốc cổ truyền: * Kết cấu Quân, Thần, Tá, Sứ: Một bài thuốc cổ truyền thường được cấu tạo theo nguyên tắc: Quân – Thần – Tá – Sứ.
Quân: Là vị thuốc chính và được coi là chủ dược của bài thuốc, dùng để chữa nguyên nhân gây ra bệnh, triệu chứng chính trong hội chứng bệnh lý. Trong một bài thuốc thông thường có 1 đến 2 vị thuốc là quân, nó trở thành bộ phận chủ yếu của bài thuốc [15], [16]. Thần: Là vị thuốc hỗ trợ cho vị thuốc chủ dược, nhằm làm tăng cường tác dụng của vị thuốc đóng vai trò quân [15]. Tá: Là vị thuốc chữa các triệu chứng phụ của hội chứng bệnh tật, hay có vai trò hạn chế tác dụng quá mạnh hay độc tính của vị thuốc chủ dược, nó cũng còn tăng tác dụng của vị thuốc chính [15].
5 Sứ: Là vị thuốc đưa tác dụng của bài thuốc đến nơi có bệnh của tạng phủ hay kinh lạc nào đó và còn có tác dụng điều hoà tính năng của các vị thuốc trong bài thuốc [15]. *Kết cấu toa căn bản: Toa căn bản là một trong những phương pháp YHCT hiệu quả được lưu lại với mục đích hướng dẫn người dân trồng và sử dụng một số loại cây thuốc nam thông thường ngay tại vườn nhà [17]. Toa căn bản được xem là bài thuốc cổ phương vì được giới YHCT dùng từ lâu và được Bộ Y tế công nhận, in thành sách để phổ biến. Toa căn bản là công thức phối hợp những vị thuốc dễ trồng, dễ mọc, có sẵn quanh năm trong vườn nhà, nổi tiếng gồm 10 vị thuốc nam thông dụng ở mọi miền đất nước, với ưu điểm là các vị thuốc dễ kiếm, dễ áp dụng và có hiệu quả, những cán bộ y tế cấp cơ sở hoặc người dân cũng bốc thuốc được [18].
Bài thuốc gồm 10 vị như sau: Bảng 1. Toa căn bản STT Tên nguyên phụ liệu Đơn vị Số lượng cho 1 thang 1 Rễ tranh Gam 8 2 Rau má Gam 8 3 Lá muồng trâu Gam 4 4 Cỏ mực Gam 8 5 Cỏ mần trầu Gam 8 6 Ké đầu ngựa Gam 4 7 Cam thảo đất Gam 4 8 Gừng khô Gam 2 9 Củ sả Gam 4 10 Trần bì Gam 4 6 Bài thuốc dùng dưới dạng thuốc sắc hay chế thành trà để hãm nước [17]. Tác dụng bài thuốc: điều hoà cơ thể, tăng cường sức đề kháng (phù chính), kết hợp với tấn công bệnh (khu tà). Phạm vi tác dụng của toa căn bản bao gồm các bệnh cảm mạo tứ thời và các bệnh thông thường của các cơ quan hô hấp, tiêu hoá, tiết niệu.
Không dùng bài thuốc này cho các bệnh nặng hoặc bệnh thuộc phạm vi ngoại khoa [19]. Công năng, chủ trị của bài thuốc - Công năng của bài thuốc: danh pháp YHCT, mô tả tác dụng bài thuốc: + Theo bát pháp: bổ, ích, dưỡng, tư, tả, thanh, hoạt, hành, tiềm, tán, … + Theo vị trí tác dụng của bài thuốc: khí, huyết, can, thận, tỳ, phế, thận, âm, dương, … + Ví dụ: tư dưỡng can thận, hành khí hoạt huyết, …, một bài thuốc có thể có một hoặc nhiều công năng [15], [16]. - Chủ trị của bài thuốc: là tên gọi bệnh chứng bài thuốc có thể can thiệp: + Tên chứng bệnh + Tên thể bệnh và/hoặc đặc điểm theo bát cương của chứng bệnh. + Ví dụ: chứng tý thể can thận hư kiêm phong hàn thấp, chứng tiết tả thể hàn thấp, …, một bài thuốc thuốc có thể có một hoặc nhiều chủ trị [15], [16].
Theo lý luận y học cổ truyền, mỗi chứng bệnh đều có căn nguyên, có cơ chế phát sinh và biểu hiện thành chứng trạng. Căn nguyên thông qua cơ chế gây bệnh làm rối loạn công năng hoạt động của vận hóa tàng chứa của ngũ tạng, công năng truyền tống của lục phủ hoặc rối loạn đường tuần hành của khí huyết vận hành trong kinh lạc,. mà sinh ra chứng trạng. Một phương thuốc điều trị được coi là trị được bệnh chứng nếu can thiệp được vào cơ chế bệnh sinh để điều chỉnh hoạt động của tạng phủ, sơ thông được tuần hành khí huyết.
Như vậy, luôn có sự thống nhất, logic khoa học theo lý luận y học cổ truyền giữa chứng bệnh, thể bệnh với chủ trị của bài thuốc; pháp điều trị với công năng của bài thuốc, tạo nên trục logic “lý – pháp – phương – dược” [16]. Sơ lược về thực trạng sử dụng thuốc nam 1. Thực trạng sử dụng thuốc nam tại cộng đồng Qua kết quả nghiên cứu của các đề tài khảo sát về sử dụng thuốc nam ở Việt Nam trong khám chữa bệnh tại cộng đồng cho thấy, đồng bào các dân tộc có nhiều kinh nghiệm phối hợp sử dụng cây và con để làm thuốc, có rất nhiều phương thuốc quý trong bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng. * Khu vực miền Bắc: - Thái Nguyên: Trong các cuộc điều tra, số lượng bài thuốc được các thầy thuốc và người dân đồng bào các dân tộc Tày, Nùng, Sán Dìu, Sán Chay và Dao của tỉnh Thái Nguyên cung cấp là khá lớn; thống kê được 180 bài thuốc nhiều người tin dùng và thừa nhận hiệu quả chữa bệnh [20]: Bảng 1.
Tỷ lệ các cây thuốc đã xác định trong các bài thuốc [20] Số bài Số cây thuốc Số cây thuốc đã Tỷ lệ cây Cộng đồng thuốc thu trong các bài xác định trong thuốc đã xác dân tộc thập thuốc các bài thuốc định (%) Tày 57 255 246 96,47% Nùng 21 106 88 83,02% Sán Dìu 6 40 29 72,50% Sán Chay 53 294 234 79,59% Dao 43 311 226 72,67% Qua thu thập các bài thuốc kinh nghiệm của người dân tộc tại Thái Nguyên, cụ thể là phỏng vấn trực tiếp 46 thầy thuốc nhận thấy sự đa dạng trong phương pháp chữa bệnh cũng như những nhóm bệnh được chữa trị ở mỗi dân tộc [20]. Kết quả thu thập bài thuốc kinh nghiệm Cộng đồng dân tộc Số lượng bài thuốc thu thập thiểu số ở Số Bài thuốc kinh nghiệm tỉnh Thái Nguyên lượng theo nhóm bệnh Dân tộc Tày 57 Bệnh tiêu hoá 13; Bệnh đường tiết niệu 6 Bệnh phụ nữ sinh sản 6; Bệnh ngoài da 6 Bệnh thần kinh 5; Bệnh cơ xương khớp 5 Bệnh trẻ em 5; Bệnh đường hô hấp 3; Chữa ngộ độc 2; Ung bướu 2; Bệnh răng miệng 2; Bệnh mắt 1; Chữa động vật cắn 1 Dân tộc Nùng 21 Bệnh xương – khớp 6; Bệnh tiêu hoá 5 Bệnh ngoài da 2; Bệnh đường tiết niệu 2; Bệnh đường hô hấp 2; Thuốc bổ 1; Cảm cúm 1; Cầm máu 1; Chữa động vật cắn 1 Dân tộc Sán Dìu 6 Bệnh xương – khớp 2; Bệnh tiêu hoá 2 Bệnh hô hấp 1; Bệnh ngoài da 1 Dân tộc Sán Chay 53 Bệnh ngoài da 9; Bệnh trẻ em 6; Bệnh đường tiêu hoá 9; Bệnh đường tiết niệu 6; Bệnh phụ nữ 5; Bệnh đường hô hấp 5; Bệnh xương – khớp 3; Bệnh thần kinh 3; Thuốc bổ 2; Răng miệng 2; Bệnh tim 1 Bệnh mắt 1; Chữa động vật cắn 1 Dân tộc Dao 43 Bệnh xương khớp 7; Bệnh tiết niệu 6; Bệnh phụ nữ 5; Bệnh thần kinh 3; Bệnh ở trẻ em 3; Bệnh ngoài da 2; Ung bướu 2; Bệnh tiêu hoá 5; Thuốc bổ 2; Cảm cúm, đậu lào 2; Răng miệng 1; Bệnh mắt 1; Chữa động vật cắn 1 9 Trong một nghiên cứu khác của Lê Thị Thanh Hương và cộng sự vào năm 2014 cho thấy tỉnh Thái Nguyên có 24 cây thuốc quý thuộc 18 chi, 17 họ của 2 ngành thực vật bậc cao có mạch nằm trong diện cần bảo vệ theo Sách đỏ Việt Nam (2007) [21]. - Tuyên Quang: Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, tỉnh Tuyên Quang, đồng bào các dân tộc Tày và Dao đã có tập quán sử dụng thuốc nam để chăm sóc sức khỏe và chữa trị bệnh từ rất lâu đời.