CHƯƠNG 1: NGƯỜI KỂ CHUYỆN TRONG TRUYỆN NGẮN CỦA TÔ HOÀI SAU 1945 1. Điểm nhìn tự sự Trong nghiên cứu lí thuyết tự sự, nghiên cứu về văn xuôi không thể không nhắc tới mối liên hệ giữa ba yếu tố: người kể chuyện, điểm nhìn, phối cảnh. Sở dĩ nghiên cứu ba yếu tố này vì nhờ có mối quan hệ này đã tạo nên một thành phần hữu cơ trong một tổng thể tự sự. Theo Pospelov, người kể chuyện “người môi giới giữa các hiện tượng được miêu tả” [64]; Tzevan Todorov khi viết về Thi pháp học cũng nhấn mạnh “người kể chuyện là nhân tố chủ động trong việc kiến tạo thế giới hư cấu.
Chính người kể chuyện là hiện thân của những khuynh hướng mang tính xét đoán và đánh giá… Không có người kể chuyện thì không có truyện kể” [65]. Abrams, trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học (A Glossary of Literature terms) cho rằng “người kể chuyện biết mọi thứ cần biết về nhân vật, sự kiện”. Ông phân biệt điểm nhìn của người kể chuyện ở ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba. Ngôi thứ nhất có: Người kể chuyện tự ý thức; Người kể Hoàng Minh Đức – Văn Cao học K52 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 chuyện không đáng tin cậy; Người kể chuyện có khả năng sai lầm.
Ngôi thứ ba cũng được chia ra làm hai dạng: Điểm nhìn thông suốt (toàn thông) với người kể chuyện thông suốt và người kể chuyện giáo huấn; Điểm nhìn hạn chế, tức người kể chuyện hạn chế bản thân trước những gì đã được trải nghiệm mà sau này các nhà văn đã phát triển kiểu điểm nhìn này thông qua trần thuật dòng ý thức. Kết luận, người kể chuyện là người dẫn dắt câu chuyện của tác phẩm. Người kể chuyện có thể đứng dưới vai trò của một nhân vật trong tác phẩm xưng “tôi” hoặc là một người kể hàm ẩn. Truyện có người kể xưng “tôi” là truyện được kể ở ngôi thứ nhất, những truyện có người kể hàm ẩn là truyện được kể ở ngôi thứ ba.
Mặc dù có xuất hiện trong một số văn bản trần thuật (Người tình của M.Duras) nhưng hình thức trần thuật từ ngôi thứ hai được sử dụng không phổ biến trong tự sự. Việc lựa chọn các hình thức tự sự gắn liền với vấn đề tổ chức điểm nhìn tự sự. Về khái niệm điểm nhìn, ta có thể khẳng định đó là “mối tương quan trong đó chỉ vị trí đứng của người kể chuyện để kể câu chuyện… Nó có thể chi phối hoặc từ bên trong hoặc là từ bên ngoài. Ở điểm nhìn từ bên trong, người kể chuyện là một trong các nhân vật; do đó câu chuyện được kể từ ngôi thứ nhất.
Điểm nhìn từ bên ngoài được mang lại từ một ý nghĩ từ bên ngoài của người kể không phải là một phần của câu chuyện; trong trường hợp này câu chuyện thường được kể từ ngôi thứ ba”. Will Greenway trong tiểu luận “Điểm nhìn, Phối cảnh và Thời gian” (Viewpoint, Perspective and Time) phân xuất kĩ hơn: Viewpoint hoặc point of view (điểm nhìn) là một kĩ thuật tự sự. Đó là vị trí mà người kể chuyện tồn tại trong phạm vi cơ cấu truyện kể. [62] Hoàng Minh Đức – Văn Cao học K52 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 Trong Figure III lại dùng từ “fosalisation” (tiêu điểm hoá) để chỉ khái niệm và định nghĩa: tiêu điểm hoá là thu hẹp tầm hiểu biết, tức chọn lọc thông tin để kể lại so với cái mà truyền thống gọi là sự thông suốt (…).
Dụng cụ của sự chọn lọc đó, là một tiêu điểm có vị trí, tức một thứ cửa nhỏ chỉ để thoát ra ngoài những tin tức nào đó mà tình hình cho phép…” [53;12]. Đề xuất này của Genette nhắc chúng ta cần phải phân biệt giữa Người kể chuyện (narrator) và Người mang tiêu điểm (focalizer). Người mang tiêu điểm và người kể chuyện là hai vấn đề rất khác nhau. Người mang tiêu điểm là chủ thể của hành vi được kể lại còn người kể chuyện là chủ thể của lời nói (có thể vắng mặt hay có mặt trong lời nói).
Trong một truyện kể còn có thể có nhiều người mang nhiều tiêu điểm tức là điểm nhìn được di động từ nhân vật này sang nhân vật khác nhưng vẫn là người kể chuyện hàm ẩn. Với truyện kể “ngôi thứ nhất” (người kể chuyện xưng tôi), chúng ta thấy có hai trường hợp: 1) Khi người kể chuyện xuất hiện trực tiếp như một tác nhân thì người kể chuyện vừa mang tiêu điểm, vừa là chủ thể của ngôn từ được sử dụng (Người kể chuyện = Người mang tiêu điểm = “tôi”); 2) Khi chỉ đóng vai trò dẫn truyện, nhân vật xưng tôi này không mang tiêu điểm, tức là “tôi” không phải là chủ thể cảm nhận, quan sát mà chỉ có nhiệm vụ kể chuyện. Truyện kể “ngôi thứ ba” (Người kể chuyện hàm ẩn) lại có ba trường hợp cụ thể: 1. Khi người kể chuyện vừa xuất hiện không trực tiếp vừa tách rời với người mang tiêu điểm, thực chất người kể chuyện đã “tựa vào điểm nhìn nhân vật để kể” từ bên trong [52;17] giọng kể của anh ta đã hoà với giọng kể của nhân vật đến mức khó có thể phân biệt; 2.
Khi người kể chuyện không xuất hiện trực tiếp nhưng lại đồng thời là người mang tiêu điểm trong tác phẩm: anh ta có vị trí quan sát từ bên ngoài, không kể theo điểm nhìn nhân vật Hoàng Minh Đức – Văn Cao học K52 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 mà kể theo điểm nhìn của chính mình; 3. Khi người kể chuyện soi tỏ sự việc từ ngoài vào trong; anh ta trở thành người kể chuyện “toàn năng” hay “toàn tri”. Trong truyện kể từ ngôi thứ hai, người kể chuyện đồng thời là một nhân vật, kể chuyện dưới dạng đối thoại với nhân vật khác, với độc giả và sử dụng ngôi nhân xưng thứ hai. Tóm lại, với người kể chuyện xuất hiện trực tiếp bằng hình thức đại từ ngôi thứ nhất, chúng ta có hai trường hợp chính: người kể chuyện xưng tôi đóng vai trò dẫn truyện và người kể chuyện xuất hiện trực tiếp như một tác nhân; với người kể chuyện từ ngôi thứ ba, chúng ta có ba trường hợp chính: người kể chuyện hàm ẩn kể theo điểm nhìn nhân vật, người kể chuyện hàm ẩn kể theo điểm nhìn của chính mình từ bên ngoài và người kể chuyện hàm ẩn toàn năng (soi tỏ sự việc từ ngoài và trong).
Ngoài ra chúng ta cần kể đến trường hợp không phổ biến của người kể chuyện từ ngôi thứ hai. Như giới nghiên cứu tự sự khẳng định, cho đến nay, hai mô thức phổ biến của tự sự là trần thuật từ ngôi thứ nhất và trần thuật từ ngôi thứ ba. Mặc dù đã sử dụng trong không ít các văn bản trần thuật xuất sắc (Người tình của M.Duras; Linh Sơn của Cao Hành Kiện), nhưng hình thức trần thuật từ ngôi thứ hai được sử dụng một cách không phổ biến trong tự sự. Ở Việt Nam, trần thuật từ ngôi thứ ba là hình thức trần thuật cổ điển được sử dụng phổ biến trong tự sự trung đại.
Bước vào quá trình hiện đại hóa, cùng với việc biến đổi của trần thuật từ ngôi thứ ba, hình thức trần thuật từ ngôi thứ nhất bắt đầu được các nhà văn sử dụng ở Việt Nam. Việc lựa chọn các hình thức trần thuật gắn liền với vấn đề tổ chức điểm nhìn tự sự. Tương tự như một bức tranh là sự tái hiện lại một hiện thực từ một góc độ quan sát nhất định, trong tự sự dòng Hoàng Minh Đức – Văn Cao học K52 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 sự kiện có thể được tái hiện lại từ điểm nhìn bao trùm toàn bộ hiện thực của nhân vật người kể chuyện trung tính (trần thuật từ ngôi thứ ba) hoặc khúc xạ qua ý thức của một nhân vật (trần thuật từ ngôi thứ nhất). Nhân vật này có thể chỉ là người chứng kiến diễn biến câu chuyện hoặc là một người tham gia trực tiếp vào cốt truyện.
Có thể tìm thấy tất cả những mô thức trần thuật này trong truyện ngắn của Tô Hoài, ta có bảng thống kê sau: Trần thuật Trần thuật từ Trần thuật từ ngôi thứ nhất từ ngôi thứ ngôi thứ ba NKC – người NKC tham hai chứng gia vào cốt truyện Tên Đồng chí Hùng Vợ chồng A Vượt Tây Côn truyện Vương; Tào Phủ; Mùa hái Lĩnh; Chiếc ngắn Lường; Du kích bông; Thào áo “xường huyện; Đi dân Mỵ kể đời xám” màu công; Xuống làng; mình; Tội hoa đào; Bác Mường Giơn; Sầm làng; Người Niệm; Một Sơn; Vỡ tỉnh; mất trí; người bạn; Những ngày đầu; Chuyện cũ, Hai đứa trẻ Hoàng Minh Đức – Văn Cao học K52 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn của Tô Hoài sau 1945 Khiêng máy; Nước mắt; đợi đi, Thảo; Khác trước; Chuyện để Ngõ phố; Người quên; Cô đào ven thành; Câu thương; Cối, chuyện bờ đầm cối ơ; Con sen đền Đồng Cổ; ngựa; Tình Hoa bìm biển; buồn 1. Điểm nhìn chủ quan: Trong hệ thống truyện ngắn Tô Hoài viết sau 1945 có 16/33 truyện ngắn kể ở danh xưng “tôi”. Ngôi thứ nhất “tôi” – người kể chuyện có hai vai trò, một là tham gia vào sự kiện, biến cố của cốt truyện như một nhân vật và đóng vai trò dẫn dắt kể lại câu chuyện như một người chứng. Đứng dưới vai trò nào thì cách kể đặt điểm nhìn vào nhân vật xưng “tôi” đều giúp người đọc dễ bắt vào câu chuyện vì có một sự định hướng quan điểm rõ ràng.
Nhân vật xưng “tôi” đem truyện mình, truyện của người khác ra kể: Vợ chồng A Phủ; Mùa hái bông; Chiếc áo “xường xám” màu hoa đào; Người mất trí, Bác Niệm, Hai đứa trẻ đợi đi; Chuyện cũ; Một người bạn; Chuyện để quên; Cô đào thương; Tình buồn; Cối, cối ơ!; Nước mắt, Con ngựa… Những câu chuyện kể dưới danh xưng “tôi”, có một số truyện mang dáng dấp một thể loại giao thoa giữa truyện và kí. Vẫn có cốt truyện, có hành động, nhân vật ở ngôi thứ nhất kể về những gì đã qua, được chứng kiến và trải nghiệm nhưng thế giới tồn tại của người kể chuyện và thế giới của nhân vật khác xa nhau về thời gian, không gian, trạng thái, cảm xúc…Trong Vượt Tây Côn Lĩnh, người kể chuyện xưng “chúng tôi”, và cuối câu chuyện thì biết đó là đại đội trưởng của đại đội Trung Lào, người trực tiếp tham gia hành quân qua Tây Côn Lĩnh. “Tôi” Hoàng Minh Đức – Văn Cao học K52 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.