Chương 1: TỔNG QUAN VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ TRUYỆN NÔM BÌNH DÂN VỀ ĐỀ TÀI PHẬT GIÁO 1. Thế giới nghệ thuật – những vấn đề lý thuyết 1. Định nghĩa thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thuật ngữ hiện đại, được sử dụng như một phương diện quan trọng trong nghiên cứu thi pháp học. Tuy nhiên, nội hàm của nó đã được nhắc đến từ xa xưa.
Vào thời cổ đại, Arixtôt trong Nghệ thuật thơ ca đã nhận xét: chỉnh thể tác phẩm là một cấu tạo, nếu đổi thay hay lấy bớt một bộ phận thì toàn thể sẽ đổi thay hay vận động và đặt ra những tiêu chí cần thiết cho một bi kịch gồm “bài trí, cốt truyện, văn từ, bố cục, âm thanh và tư tưởng” (Arixtôt, 1997, tr. Thời trung đại ở Trung Quốc, trong Văn tâm điêu long Lưu Hiệp đã đưa ra khái niệm “lục quan” có phạm vi bao hàm cả nội dung và hình thức của một tác phẩm văn học: “Tình cảm sâu mà không dối; Phong thái mà không tạp; Việc chắc mà không ba hoa; Nghĩa thẳng mà không quanh co; Thể gọn mà không rườm rà; Văn đẹp mà không dâm” (Lưu Hiệp, 2007, tr. Vào giai đoạn chủ nghĩa lãng mạn, thế giới nghệ thuật dần được chấp nhận như một thế giới có sự sống, tổ chức riêng tùy theo cảm hứng sáng tạo của người nghệ sĩ. Schelling, Shchedrin, Balzac.
là những người đầu tiên gọi tác phẩm là “thế giới nghệ thuật”, “vũ trụ nghệ thuật” ((Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn Huệ Chi, Trần Hữu Tá & Phùng Văn Tửu, 2004, tr. Shchedrin quan niệm “tác phẩm văn học là một vũ trụ thu nhỏ, mỗi sản phẩm nghệ thuật là một thế giới khép kín trong bản thân nó”. Đến khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, thế giới nghệ thuật được dùng phổ biến trong nghiên cứu trên toàn thế giới với nội hàm khoa học chặt chẽ. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về thi pháp học và thế giới nghệ thuật văn học bắt đầu từ khoảng nửa sau thế kỷ XX.
Sang đến đầu thế kỷ XIX, các công trình nghiên cứu, luận văn, luận án về thế giới nghệ thuật của các nhà văn, nhà thơ, loại hình văn học, tác phẩm tiêu biểu trong nước cũng bắt đầu nở rộ. Từ các nghiên cứu đó, những định nghĩa rõ ràng được ra đời: 17 Thuật ngữ thế giới nghệ thuật nhằm nhấn mạnh tính khu biệt, toàn vẹn của một vấn đề văn học. Lê Ngọc Trà (1990) trong Lý luận và văn học nhận định “đối tượng nghiên cứu đầu tiên của thi pháp học là các yếu tố và cấu trúc tác phẩm văn học như ngôn ngữ, thế giới nghệ thuật”. Nghiên cứu thế giới nghệ thuật của tác phẩm có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu cách cảm nhận thế giới và quan niệm tư tưởng của nhà văn (tr.
Trong Giáo trình lý luận văn học, Lê Tiến Dũng (2003) cho rằng, qua văn bản ngôn từ, người đọc bắt gặp “bức tranh đời sống” như đã gặp đâu đó, lại như chưa gặp bao giờ. Đó là “lớp thế giới nghệ thuật hay là lớp hình tượng” (tr. Mỗi nhà văn, mỗi thời đại văn học sẽ sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật riêng. Tiếp nhận được thế giới này là cơ sở đầu tiên để hiểu tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm, cảm nhận những gì nhà văn miêu tả, ký thác, cũng như cái nhìn, quan niệm của họ về con người, cuộc sống.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử & Nguyễn Khắc Phi, 2009, tr. Trần Đình Sử (2017) cho rằng, thuật ngữ này “một mặt gợi ra tính liên quan giữa thế giới của nghệ thuật với thế giới thực tại, mặt khác, chữ nghệ thuật đã chỉ ra sự khác biệt về nguyên tắc giữa thế giới nghệ thuật và thực tại” (tr. Từ những quan niệm trên, chúng tôi tạm đưa ra kết luận, thế giới nghệ thuật là thế giới được hình thành trong một tác phẩm nghệ thuật qua cảm nhận riêng của người sáng tác nhưng đồng thời cũng chính là cái khung hình thức biểu hiện của thế giới ấy, giúp nó được thể hiện trọn vẹn và đầy đủ. Đặc điểm thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là phương diện muôn màu muôn vẻ, khó nắm bắt.
Để khám phá trọn vẹn thế giới ấy là nhiệm vụ vô cùng khó khăn với các nhà nghiên cứu. Bởi những hạn chế trong năng lực, sau quá trình tìm hiểu, chúng tôi chỉ có thể tạm thời rút ra những đặc điểm cơ bản nhất của thuật ngữ này: Thứ nhất, thế giới nghệ thuật là một chỉnh thể gồm cả nội dung và hình thức của sáng tạo nghệ thuật. Bởi hình thức nào cũng mang nội dung và tương tự, bất cứ nội dung nào cũng có hình thức biểu hiện nhất định. Đi vào thế giới nghệ 18 thuật của tác phẩm tức là đi vào cấu trúc nội tại, có sự thống nhất hài hòa giữa nội dung và hình thức.
Theo Belinsky “khi hình thức là biểu hiện của nội dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nếu tách nó ra khỏi nội dung thì nghĩa là hủy diệt bản thân nội dung và ngược lại, tách nội dung ra khỏi hình thức có nghĩa là tiêu diệt hình thức” Phương Lựu, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam, 1987, tr. Thứ hai, thế giới nghệ thuật là sản phẩm của quá trình sáng tạo tinh thần nhưng được tạo nên từ những nguyên tắc cụ thể. Đó là “sản phẩm do nhà văn sáng tạo ra bằng hư cấu, được truyền đạt bằng các ký hiệu và biểu tượng trong các phương tiện giao tiếp của con người, trước hết là ngôn từ nghệ thuật” (Trần Đình Sử, 2017, tr. Tuy nhiên, sự sáng tạo không hoàn toàn tự do mà chịu sự chi phối nhất định từ quan niệm thời đại.
Chẳng hạn, bi kịch cổ điển Pháp sẽ phải tuân thủ quy tắc tam duy nhất: duy nhất về địa điểm, về thời gian, về hành động. Văn học trung đại Trung Quốc và Việt Nam chủ yếu mang tính ước lệ, quy phạm, công thức, nghi thức, gắn chặt với tính nệ cổ, mô phỏng, thích dùng điển cố. Có thể khẳng định, để hiểu và nắm bắt một thế giới nghệ thuật, quan trọng nhất là xác định được những nguyên tắc tạo nên nó. Theo Trần Đình Sử (2017), “các nguyên tắc tạo nên thế giới nghệ thuật vừa là nguyên tắc tạo hình thức, đồng thời cũng là nguyên tắc tạo nghĩa, nguyên tắc giải thích thế giới” (tr.
Thứ ba, thế giới nghệ thuật là thế giới riêng không trùng lặp. Nó khác với “thế giới thực tại hay thế giới tâm lý của con người mặc dù nó phản ánh các thế giới ấy”. Thế giới nghệ thuật có không gian, thời gian, quy luật tâm lý, quan hệ xã hội, đạo đức, thang bậc giá trị riêng (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, 2009, tr. Mỗi Thế giới nghệ thuật được tạo ra sẽ mang một thông điệp hoặc một cách cắt nghĩa đặc biệt về thế giới.
Dù vậy, Thế giới nghệ thuật không hoàn toàn tách rời khỏi thực tại. Tức, đó là một thế giới kép: thế giới được miêu tả (nhân vật, sự kiện, cảnh vật) và thế giới miêu tả (thế giới của người kể chuyện, người trữ tình). Thế giới nghệ thuật có “cấu tạo đặc biệt, có sự thống nhất không tách rời, vừa có sự phản ánh thực tại vừa có sự tưởng tượng sáng tạo của tác giả, có sự khúc xạ thế giới bên trong của nhà văn” (Trần Đình Sử (chủ biên), 2016, tr. 19 Thứ tư, thế giới nghệ thuật gồm nhiều yếu tố phân chia theo cấp độ của sáng tạo nghệ thuật.
Một số yếu tố của thế giới nghệ thuật như: nhân vật, không gian, thời gian, âm thanh, màu sắc. mang ý nghĩa tượng trưng. Các yếu tố có vị trí riêng song vẫn nhất quán trong quan hệ biện chứng, trật tự ràng buộc lẫn nhau, không thể thiếu đối với hệ thống (Trần Đình Sử (chủ biên), 2016, tr. Trên đây là những lý thuyết sơ lược liên quan đến thế giới nghệ thuật.
Việc đưa ra định nghĩa và đặc điểm của thuật ngữ này góp phần giới thuyết và xây dựng nền tảng khoa học để chúng tôi thực hiện luận văn. Song, trước khi bắt đầu nghiên cứu cụ thể đề tài, chúng tôi nghĩ nhất thiết phải điểm qua một vài vấn đề lý thuyết liên quan đến thể loại truyện Nôm và truyện Nôm bình dân về đề tài Phật giáo. Truyện Nôm và truyện Nôm bình dân 1. Đôi nét về thể loại truyện Nôm 1.
Quá trình hình thành và khái niệm truyện Nôm Quá trình hình thành và phát triển của truyện Nôm gồm bốn giai đoạn: Từ cuối thế kỷ XV đầu thế kỷ XVI với hình thức là những bài thơ Nôm Đường luật xâu chuỗi lại với nhau. Đặc biệt là sự ra đời của tác phẩm Nghĩ hộ tám giáp giải thưởng hát ả đào của Lê Đức Mao được xem là mở đầu của thể thơ lục bát. Thế kỷ XVII là giai đoạn truyện Nôm chính thức ra đời với hàng loạt tác phẩm như Quan Âm tống tử bản hạnh, Thoại Khanh – Châu Tuấn, Lý Công… Thế kỷ XVIII và nửa đầu XIX là giai đoạn hoàng kim của truyện Nôm với sự xuất hiện của Đoạn trường tân thanh (Nguyễn Du), Truyện Song tinh (Nguyễn Hữu Hào), Hoa Tiên (Nguyễn Huy Tự)… Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, truyện Nôm bắt đầu suy yếu và nhường chỗ cho các thể loại văn xuôi hiện đại (Nguyễn Thị Nhàn, 2009, tr. Thể loại Truyện Nôm trong suốt bốn thế kỷ phát triển đã có một đồ sộ về đề tài và đối tượng phản ánh.
Song, vấn đề nghiên cứu truyện Nôm, đặc biệt là một định nghĩa cố định cho thể loại này vẫn gây nhiều tranh cãi. “Truyện thơ”, “truyện Nôm” hay “truyện thơ Nôm” là một khái niệm không mới nhưng cũng rất khó để tìm ra tên gọi chính xác nhất. Vì vậy, trong hành trình nghiên cứu văn học Việt Nam, có rất nhiều định nghĩa về thể loại này được nêu ra: 20 Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu) và Nguyễn Hồng Phong trong Lịch sử văn học Việt Nam sơ giản định nghĩa: “Truyện Nôm là tiểu thuyết viết bằng văn vần” (Nguyễn Hồng Phong, 1963, tr. Nghiêm Toản (1949) trong Việt Nam văn học sử trích yếu gọi truyện Nôm là “trường thiên tiểu thuyết viết theo thể lục bát hay song thất lục bát” (tr.
Lê Hoài Nam (1976) trong Lịch sử văn học Việt Nam, cho rằng truyện Nôm là sáng tác có tính trung thiên tiểu thuyết, viết bằng thể thơ lục bát, có khi thất ngôn bát cú (tr. Cao Huy Đỉnh (1974) trong Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, xem truyện Nôm là “tiểu thuyết xã hội – lịch sử bằng thơ Nôm” (tr.