Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỂ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Khái niệm văn hóa, văn hóa ứng xử 1. Khái niệm văn hoá Thuật ngữ: “Văn hóa” được bắt nguồn từ chữ Latinh “cultus” có nghĩa gốc là gieo trồng, canh tác, trồng trọt. “Có hai loại trồng trọt, một là trồng trọt ngoài đồng (cultusagri) và hai là “trồng trọt tinh thần” tức là sự giáo dục bồi dưỡng tâm hồn con người” [54, tr10].
Theo thời gian, đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa. Trong cuốn sách Văn hóa nguyên thủy Edward Burnett Tylor đã xác định “Văn hóa là một chỉnh thể phức tạp bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán và bất kỳ năng lực và thói quen khác được con người chiếm lĩnh với tư cách là một thành viên của xã hội” [19, tr13]. Theo Federico Mayor, Tổng giám đốc UNESCO thì: “Đối với một số người, văn hóa chỉ bao gồm những kiệt tác trong lĩnh vực tư duy và sáng tạo; đối với những người khác, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động” [51, tr5]. Cách hiểu về văn hóa này đã được cộng đồng quốc tế công nhận và phổ biến một cách rộng rãi tai Hội nghị liêm chính phủ về chính sách văn hóa họp năm 1970 tại Venise.
Trong các định nghĩa về văn hóa người viết cho rằng định nghĩa mà UNESCO đưa ra có tính tổng quát cao, mang đầy đủ nội hàm định nghĩa về văn hóa nhưng vẫn nhấn mạnh đến tính riêng biệt của mỗi nền văn hóa: “Văn hóa là tổng hợp các hệ thống bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Văn hóa không thuần túy bó hẹp trong hoạt động sáng tạo nghệ thuật mà còn bao hàm cả phương thức sống, những quyền cơ bản của con người, truyền thống, tín ngưỡng” [54, tr18]. 8 Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa học cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau, trong đó có định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm được các nhà nghiên cứu nhắc đến nhiều và coi đó là công cụ hữu ích để tìm hiểu văn hóa: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình. Định nghĩa này đã khái quát được những đặc trưng cơ bản của khái niệm văn hóa là tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh, tính lịch sử.
Từ đó trong công trình nghiên cứu Cơ sở văn hóa Việt Nam, ông đã đưa ra hệ thống cấu trúc văn hóa gồm 4 tiểu hệ cơ bản: văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Như vậy, từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, tích lũy, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kì lịch sử nhất định. Văn hóa là sản phẩm của con người, song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì bền vững và trật tự xã hội. Khái niệm văn hoá ứng xử Từ lâu nay, vấn đề ứng xử trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với gia đình, với xã hội.
được rất nhiều người quan tâm xem xét, đặc biệt là ở Việt Nam - một đất nước gốc nông nghiệp với lối sống “trọng tình”. Theo góc nhìn xã hội học văn hóa thì khái niệm “ứng xử” được dùng để chỉ thái độ, cách hành động, cử chỉ, cách nói như thế nào đó của một chủ thể nào đó với một chủ thể khác trong một tình huống nhất định. Ứng xử không chỉ giới hạn ở giữa các vai trò xã hội với nhau mà còn bao gồm cả ứng xử với chính mình, với đồ vật, với tự nhiên. Hành vi ứng xử văn hóa được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó.
9 Theo giáo sư Trần Ngọc Thêm, hệ thống văn hóa gồm 4 thành tố (văn hóa nhận thức, văn hóa tổ chức cộng đồng, văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên, văn hóa ứng xử với môi trường xã hội) trong đó văn hóa ứng xử đã chiếm hai tiểu hệ (văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường xã hội). Qua đó, ta có thể thấy văn hóa ứng xử là biểu hiện rất quan trọng của văn hóa, góp phần cơ bản tạo nên hệ thống văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc. Về khái niệm Văn hóa ứng xử ở Việt Nam có khá nhiều định nghĩa khác nhau. Nhà nghiên cứu Phạm Vũ Dũng cho rằng: “Văn hóa ứng xử là hệ thống tinh tuyển những nếp ứng xử, chuẩn mực ứng xử, trong mối quan hệ ứng xử giữa con người và các đối tượng khác nhau, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống, tâm sinh lý.
trong quá trình hình thành phát triển và hoàn thiện đời sống, đã được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa, trở thành chuẩn mực của cá nhân, nhóm xã hội, toàn xã hội; phù hợp với đời sống xã hội, với đặc trưng, bản sắc văn hóa một dân tộc, một quốc gia. được cá nhân, nhóm xã hội, cộng đồng, toàn xã hội, thừa nhận và làm theo” [14, tr27]. Theo Đỗ Long trong cuốn Tâm lý học văn hóa ứng xử thì: “Văn hóa ứng xử là một hệ thống thái độ hành vi được xác định để xử lý các mối quan hệ giữa người với người trên các căn cứ pháp luật đạo lý nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển của cộng đồng người, của xã hội” [36, tr73]. Báo Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh trong bài viết Văn hóa ứng xử và hành vi ứng xử có văn hóa trong học sinh cũng đưa ra định nghĩa như sau: “Văn hóa ứng xử là một biểu hiện của giao tiếp, là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huống nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mối quan hệ giữa con người với nhau.
Văn hóa ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của từng cá nhân trong giao tiếp xã hội” [77] 10 Như vậy, qua các định nghĩa của các nhà nhiên cứu trên, chúng ta có thể thấy rằng văn hóa ứng xử chính là phép đối nhân xử thế của con người. Nó thể hiện trực tiếp thái độ của con người trong các mối quan hệ, với những vấn đề lớn như: giữa người với người, giữa cá nhân với gia đình, xã hội, với tự nhiên… đồng thời thể hiện mức độ học vấn và nhận thức của cá nhân, suy rộng ra là của cả một cộng đồng dân tộc. Văn hóa ứng xử ở mỗi cộng đồng, mỗi tộc người lại có những yếu tố đồng nhất và khác biệt. Văn hóa ứng xử hình thành và phát triển cùng với sự hình thành phát triển của nền văn hóa ở mỗi quốc gia dân tộc.
Thông qua tìm hiểu văn hoá ứng xử chúng ta có thể nhận thức sâu hơn về văn hóa tộc người, hiểu được cội nguồn và sự vận động của nó trong tiến trình lịch sử. Văn hoá ứng xử của người Việt Văn hóa Việt Nam thuộc kiểu văn hóa nông nghiệp lúa nước Đông Nam Á. Văn hóa gốc nông nghiệp gắn với thiên nhiên, với cộng đồng xã hội. đã hình thành nên nếp ăn, ở, mặc, giao tiếp, tính cộng đồng, tính tự quản, lối sống hướng tới sự hài hòa.
của người Việt Nam. Cùng với tính cộng đồng - người Việt Nam luôn sống trong mối quan hệ giữa mình với gia đình, dòng họ, xóm làng. nên người Việt đề cao lối sống “trọng tình”, đoàn kết, giàu tình cảm, trọng nhân nghĩa. Những yếu tố trên làm nên bản sắc dân tộc Việt, tạo nên diện mạo văn hóa ứng xử của dân tộc Việt Nam.
Văn hoá ứng xử của người Việt trong gia đình Văn hóa ứng xử giữa con người với con người thể hiện rõ nét qua ngôn ngữ, hành vi, nếp sống. của mỗi cá nhân. Soi vào các khuôn mẫu, qua lối ứng xử đó thì tình cảm, đạo đức, nhân cách con người được bộc lộ rõ nét. Nhìn chung, truyền thống của người Việt Nam đối với gia đình rất trọn tình, vẹn nghĩa.
Trong quan hệ gia đình, tình nghĩa được trân trọng qua sự yêu thương, đùm bọc lẫn nhau của các thành viên như: sự hiếu thảo hết mực của con cái với cha mẹ, tấm lòng thương yêu của cha mẹ dành cho con, sự yêu thương, đùm 11 bọc, kính nhường của anh, chị, em là tình yêu chân thành, mãnh liệt và sự thủy chung son sắt, biết trân trọng và cảm thông của quan hệ vợ chồng,… Lối ứng xử văn hóa này được thể hiện sâu sắc và đậm nét trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam. Từ thời “mẹ ru con bên nôi, trai gái tự tình bên cối gạo”, người Việt Nam ta đã bao đời truyền tai nhau những câu ca dao, tục ngữ ngọt ngào đầy hình ảnh, gợi cảm mà rất sâu sắc về tình yêu thương trong gia đình như “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”, “Ngó lên nuột lạt mái nhà/ Bao nhiêu nuột lạt thương ông bà bấy nhiêu”, “Anh em như thể tay chân”. hay những câu chuyện dân gian như truyện cổ tích Tấm Cám, Trầu Cau, Sọ Dừa, Cây Khế. Sang tới giai đoạn văn học trung đại do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo, hệ thống ba mối quan hệ trong gia đình: phụ tử, phu thê, huynh đệ đã bị thắt chặt, buộc họ vào những khuôn khổ nhất định.
Trong xã hội phong kiến, một gia đình mẫu mực theo tư tưởng Nho giáo đã góp phần ổn định xã hội và phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị. Theo Nho giáo muốn “trị quốc” thì phải “tề gia”, “gia đình được Nho giáo đặc biệt chú ý không chỉ vì nó quan tâm nhiều đến việc xây dựng gia đình, đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội mà còn vì nó chủ trương tổ chức nhà nước và xã hội theo mẫu gia đình” [32, tr232].