Chương 1 Cơ sở lý luận và tổng quan địa bàn nghiên cứu Chương 2 Thực trạng phát triển nghề truyền thống hương ở Quán Hương ở thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam Chương 3 Giải pháp bảo tồn và phát triển nghề truyền thống hương Quán Hương ở thị trấn Hà Lam, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam 4 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm về làng nghề, làng nghề truyền thống, nghề truyền thống và tổ nghề * Khải niệm về làng nghề: Có nhiều khái niệm về làng nghề trong đó theo GS Trần Quốc Vượng: làng nghề là làng có trồng trọt theo lối tiểu n ng và chăn nu i nhỏ (lợn, gà…) cũng có một số nghề phụ khác song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả… c ng một số thợ phó và thợ nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định. Sống chủ yếu được bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường xung quanh và với thị trường đ thị và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài. [20] Theo tác giả Trần Minh Yến thì làng nghề được hiểu là: làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở n ng th n, được cấu thành bởi 2 yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một kh ng gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa.
[22] Xét về mặt định tính, làng nghề ở n ng th n nước ta được hình thành và phát triển do nhu cầu của phân c ng lao động và chuyên môn hóa nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển và chịu sự tác động mạnh của nông nghiệp và nông thôn Việt Nam với những đặc trưng của nền văn hóa l a nước và nền kinh tế hiện vật, sản xuất nhỏ tự cấp tự túc. Xét về mặt định lượng, làng nghề là những làng mà ở đó có số người chuyên làm nghề thủ công nghiệp và sống chủ yếu bằng nguồn thu nhập từ nghề đó chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng dân số của làng. 5 Dựa trên các quan điểm trên, có thể hiểu làng nghề là một không gian lãnh thổ nhất định có vị trí địa l ác định, ở đó tập hợp nhiều hộ gia đình sinh sống tạo thành làng. Họ tham gia sản xuất cùng một hay nhiều ngành nghề thủ công nhất định, nghề đó gi p người lao động tạo ra các nguồn lợi về kinh tế để duy trì cuộc sống và giúp họ gắn kết các mối quan hệ xã hội với nhau.
Dựa vào hai đặc điểm làng và nghề để tạo nên một làng nghề. *Khái niệm về làng nghề truyền thống Theo th ng tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, làng nghề truyền thống được công nhận dựa trên các tiêu chí sau: Làng nghề truyền thống được công nhận phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định tại th ng tư số 116/2006/TT- BNN ngày 18/012/2006 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định tại Th ng tư số 66/2006/NĐ-CP, cụ thể: Thứ nhất, nghề của làng nghề đã uất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận. Thứ hai, nghề của làng nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hóa dân tộc. Thứ ba, nghề của làng gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Thứ tư, số hộ và số lao động trong làng nghề truyền thống đạt từ 30% trở lên so với tổng số lao động của làng. Thứ năm, sản phẩm làm ra có tính thẩm mỹ mang đậm nét yếu tố và bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam. Thứ sáu, hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm công nhận. Thứ bảy, chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước.
[20] 6 Dựa trên các tiêu chí của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có thể thấy làng nghề truyền thống trước hết phải được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó bao gồm một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi hội tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết hỗ trợ nhau trong trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn có ý thức tuân thủ những thiết chế xã hội và gia tộc. Làng nghề tuyền thống được hình thành từ lâu đời, trải qua thử thách của thời gian được vẫn duy trì và phát triển, được lưu truyền từ đời này qua đời khác. Trong các làng nghề truyền thống thường có đại bộ phận dân số làm nghề cổ truyền hoặc một vài dòng họ chuyên làm nghề theo kiểu cha truyền con nối, nghĩa là việc dạy nghề được thực hiện theo phương pháp truyền nghề.
* Khái niệm về nghề truyền thống Nghề truyền thống trước hết là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó Từ đó đã hình thành các làng nghề, phố nghề, xã nghề Đặc trưng cơ bản nhất của mỗi nghề truyền thống là phải có kỹ thuật và công nghệ truyền thống, đồng thời có các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề. Sản phẩm làm ra vừa có tính hàng hóa, đồng thời vừa có tính nghệ thuật và mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. [19] Ngày nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ đã khiến cho việc sản xuất các sản phẩm có tính truyền thống được hỗ trợ bởi quy trình công nghệ mới với nhiều loại nguyên vật liệu mới. Do vậy khái niệm về nghề truyền thống cũng được nghiên cứu và mở rộng với cách hiểu mới.
Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc 7 hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc.[22] Từ các khái niệm trên có thể hiểu nghề truyền thống các nghề mà hoạt động sản xuất được thực hiện bằng phương pháp thủ công truyền thống và đã được kế thừa cải tiến bằng các phương pháp sản xuất hiện đại có sự hỗ trợ của máy móc được truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một cộng đồng, thường là qua gia đình hoặc thầy trò. Các nghề truyền thống thường xuất hiện từ thời kỳ lâu đời và phản ánh lịch sử, văn hóa và truyền thống của một khu vực cụ thể. *Khái niệm tổ nghề Theo tác giả Nguyễn Quốc Minh đã định nghĩa: “Tổ nghề (còn gọi là Tổ sư hay nghệ sư) Có thể hiểu đó là những nhân vật có thật hoặc thần thoại hoá, dân gian hoá. Họ là những người có công gây dựng hoặc đem nghề ở nơi khác truyền đến cho dân chúng ở một vùng miền nào đó, để nhân dân nơi ấy mở mang phát triển, được người đời sau ghi nhớ c ng ơn và lập đền thờ.
[] Theo tác giả Ánh Tuyết tổ nghề của làng là người đầu tiên đưa nghề về truyền dạy cho họ tộc, dân làng, hình thành và phát triển thành nghề, giúp người dân trong làng có c ng ăn việc làm, có thu nhập chính trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, n ng th n, được dân làng tôn vinh kính trọng, tổ nghề có thể được nhiều làng nghề suy tôn, thờ c ng, được dân làng ghi công, truyền tụng. Tổ nghề có thể là người địa phương hay từ nơi khác đến. Họ thường xuất thân từ giai cấp thượng lưu, có học, sinh thời làm quan, trong thời gian đi sứ học được nghề mang về làng truyền dạy lại, cũng có nhiều Tổ nghề là người làng đi làm thuê rồi học nghề về truyền dạy lại ở làng… D uất phát ở đâu nhưng Tổ nghề thực sự là người có công lớn, là nhân tố không thể thiếu cho việc tạo lập làng nghề thủ công truyền thống ở mỗi làng nghề. [] Từ hai định nghĩa trên có thể thấy được tổ nghề chính là người đầu tiên có công mang nghề đến làng thông qua các hoạt động truyền dạy cho người dân trong làng, đã khiến nghề đó phát triền gi p cho người dân có kế sinh 8 nhai rồi dần dần làng đó phát triển thành làng nghề Để thiện lòng tri ân, đạo hiếu với những vị có công truyền bá nghề mà người dân trong làng đã thờ phụng và tôn vinh các vị ấy mà từ đó người việc có tục thờ tổ nghề.
tục thờ tổ nghề là truyền thống tốt đẹp ở các làng nghề Việt Nam, thể hiện sự biết ơn những vị sáng lập, mở mang tri thức ngành nghề cho dân làng. Việc thờ phụng Tổ nghề, người ta mong cho ngành nghề phát triển, cuộc sống sung túc, ấm no, hạnh phúc.2 Vai trò của làng nghề Bảo tồn di sản văn hóa: Làng nghề thường là nơi duy trì và bảo tồn các nghệ thuật, công nghệ và phương pháp truyền thống. Những kiến thức và kỹ thuật lâu đời được truyền lại qua các thế hệ, đồng thời các làng nghề cũng giữ gìn các giá trị văn hóa và tạo ra các sản phẩm mang tính biểu tượng của một khu vực hay một quốc gia. Tạo việc làm và phát triển kinh tế địa phương: Làng nghề thường có vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm cho cộng đồng địa phương Việc sản xuất và buôn bán các sản phẩm từ làng nghề cung cấp thu nhập cho các nghệ nhân và người lao động trong khu vực, đóng góp vào phát triển kinh tế của địa phương Gắn kết cộng đồng: Làng nghề thường là trung tâm của cộng đồng, nơi các nghệ nhân và người làm việc cùng nhau làm việc và chia sẻ kiến thức.
Các hoạt động trong làng nghề thường tạo ra sự gắn kết, tương tác ã hội và hỗ trợ lẫn nhau giữa các thành viên trong cộng đồng.