Chương 1: VÀI NÉT VỀ LÀNG NGHỀ ĐA MAI 1. Vài nét về làng nghề Việt Nam và tỉnh Bắc Giang 1.Một số vấn đề chung về làng nghề truyền thống 1.Nghề truyền thống Nói đến truyền thống là nói đến những giá trị, các yếu tố, quan niệm của cộng đồng người, xã hội được lưu giữ trong một thời gian dài từ thế hệ này qua thế hệ khác. Truyền thống thể hiện tính kế thừa, có sự phát triển theo lịch sử. Khái niệm về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống được quy định rõ trong Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ.
Bên cạnh đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các khái niệm khác nhau về các khái niệm kể trên vì vậy trong giới hạn của luận văn này tác giả chỉ nhằm tổng kết lại những quan điểm đã có để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu đề tài “Nghề làm bún truyền thống xã Đa Mai, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang”. Trước hết là những quy định của Nhà nước về nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống. Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn” trong Phần 1 Quy định chung đã giải thích các khái niệm: “Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”. Tiêu chí công nhận nghề truyền thống: Nghề truyền thống phải đạt ba tiêu chí: Thứ nhất: Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.
Thứ hai: Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ ba: Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề. Bên cạnh khái niệm nghề truyền thống theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN còn có nhiều khái niệm nghề truyền thống được đưa ra bởi các nhà nghiên cứu. Có người coi nghề truyền thống là nghề cổ truyền, có người căn cứ vào thời gian tồn tại của nghề, số người theo nghề và thu nhập từ nghề so với tổng thu nhập trong làng xã.
Nghề truyền thống là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một làng nào đó và được lưu truyền từ đời này sang đời khác (truyền nghề), được lưu giữ kỹ thuật sản xuất (bí quyết truyền nghề), đúc kết kinh nghiệm. Nghề truyền thống thường được lưu giữ trong gia đình, dòng họ, một làng, một vùng. Nghề thủ công truyền thống trong quá trình hình thành và phát triển không chỉ bó hẹp trong phạm vi một làng đó mà được mở rộng hơn như xã nghề, phố nghề, phường nghề, hội nghề. Theo Trần Minh Yến: “Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc” [100].
Nói đến nghề truyền thống không thể không nhắc đến tổ nghề. Tổ nghề là những người có đức, có công phát minh ra nghề, dạy nghề. Tổ nghề không nhất thiết phải là người ở địa phương đó. Ở nhiều làng nghề, tổ nghề được suy tôn là thành hoàng làng, được lập miếu thờ.
Có nhiều tổ nghề của cùng một nghề và được thờ ở nhiều vùng khác nhau. Rất nhiều nghề ở Việt Nam khuyết danh về thân thế sự nghiệp và thời điểm truyền nghề của các vị tổ nghề. Thân thế sự nghiệp của họ được truyền miệng qua các thế hệ và có nhiều dị bản 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khác nhau nhưng trong tâm thế của người làm nghề luôn một lòng biết ơn kính trọng họ. Các nghề truyền thống tạo nên đặc trưng riêng của mỗi làng, mỗi vùng, được lưu truyền nhiều qua nhiều thế hệ và đi vào thơ ca một cách đầy kiêu hãnh: Ai về Đồng Tỉnh Huê Cầu Đồng Tỉnh bán thuốc Huê Cầu nhuộm thâm Hay: Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông Các nghề truyền thống ở Việt Nam được hình thành và phát triển gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Vị thế của người thợ thủ công so với các nghề khác trong chế độ cũ được xác định trong câu nói: “Sĩ, nông, công, thương”, “làm thầy nuôi vợ làm thợ nuôi miệng” tuy thế vị trí người thợ thủ công cũng có lúc được đánh giá cao “có ruộng bề bề” chẳng bằng có “nghề trong tay” nhưng cũng có lúc người thợ làm nghề bị coi rẻ như trong câu ca nói về người làm nghề khảm trai Chuyên Mỹ (Hà Tây cũ): Hoài người lấy chú thợ cưa Cò cưa ký quéc có ngày không cơm Nghề truyền thống ở Việt Nam rất đa dạng vì vậy việc phân loại nghề có nhiều cách khác nhau và mang tính chất tương đối. Theo Dương Bá Phượng, nghề thủ công truyền thống ở nước ta được chia thành năm nhóm sau: Mặt hàng thủ công mỹ nghệ: sơn mài, khảm trai. Mặt hàng công cụ sản xuất: sản xuất liềm, hái. Mặt hàng phục vụ tiêu dùng thông thường như: dao kéo.
Mặt hàng phục vụ cho sản xuất, đời sống như: nề, mộc, vật liệu xây dựng. Mặt hàng chế biến lương thực thực phẩm: bánh cuốn, rượu. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nghề truyền thống còn được phân loại theo các tiêu chí về trình độ sản xuất, theo tính chất kinh tế nhưng cơ bản cách phân loại theo nhóm nghề được đồng thuận hơn cả. Nghề làm bún trong đề tài nghiên cứu của tác giả thuộc nhóm nghề chế biến lương thực thực phẩm.
Làng nghề truyền thống Theo thông tư số 116/2006/TT-BNN, ngày 18 tháng 12 năm 2006 “Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/07/2006 của Chính phủ”, làng nghề, làng nghề truyền thống được giải thích như sau: “Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau” [14]. “Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời” [14]. - Các tiêu chí để công nhận làng nghề: + Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn. + Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận.
+ Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước. - Tiêu chí để công nhận làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với tổ chức hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) nghiên cứu “Quy hoạch phát triển ngành nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn Việt Nam” năm 2002 xác định làng nghề dựa theo hai tiêu chí: Có trên 20% số hộ trong làng tham gia sản xuất thủ công hoặc chính quyền xã công nhận nghề thủ công đó có ý nghĩa quan trọng đối với làng. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các tiêu chí đánh giá trên chỉ có tính chất tương đối bởi lẽ ở các làng nghề khác nhau thì tỷ lệ sẽ khác nhau, bên cạnh đó vì tính chất ngành nghề khác nhau nên số lượng lao động làng nghề có sự biến đổi thường xuyên liên tục.
Làng nghề có thể là làng thủ công truyền thống đã tồn tại hàng trăm năm nhưng cũng có thể là làng nghề mới xuất hiện gần đây do những đổi thay của bối cảnh lịch sử xã hội. Làng nghề truyền thống được phân loại như sau: - Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất mặt hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm, dệt tơ tằm, chạm khắc đá, gỗ…; - Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu sản xuất và đời sống như: mộc, cơ khí, vật liệu xây dựng…; - Làng nghề chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng như: dệt vải, chiếu, làm nón, đan lát…; - Làng nghề chuyên chế biến lương thực thực phẩm: làm bún, bánh, chế biến thủy hải sản…(Làng nghề làm bún Đa Mai thành phố Bắc Giang trong nghiên cứu của tác giả thuộc nhóm phân loại này). Cũng như nghề truyền thống, bên cạnh khái niệm về làng nghề truyền thống của cơ quan Nhà nước ban hành thì không ít các nhà nghiên cứu có những quan điểm khác nhau về làng nghề truyền thống. Dưới đây là một số khái niệm được đưa ra: Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng, làng nghề được định nghĩa: Làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh…làng đồng Bưởi, Vó, Hè Nôm, Thiệu Lý, Phước Kiều.làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ (lợn, gà) cũng có một số nghề phụ khác (đan lát, làm tương) song đã nổi trội một số nghề cổ truyền, tinh sảo với mọi tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông phó cả…cùng một số thợ phó và thợ nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định và có thể sống chủ yếu được bằng nghề đó, và mặt hàng thủ công 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của họ đã là sản phẩm hàng hóa, có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng, đô thị, thủ đô hay cả nước ngoài [97, tr.
Quan điểm khác về làng nghề như: làng nghề là một thiết chế kinh tế xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa. Làng nghề truyền thống: trước hết là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, là nơi có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.