Chương I: Cơ sở lý luận về công tác xã hội nhóm với phụ nữ bị bạo lực gia đình. - Chương II: Thực trạng công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. - Chương III: Ứng dụng công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở xã Hiệp Hòa, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH 1. Các khái niệm công cụ Khái niệm “nữ quyền”: gắn liền với hoạt động chính trị và xã hội, sinh ra từ ý thức vè sự bình đẳng trên phương diện giới. Nói một cách khái quát, khái niệm này chỉ quyền lợi về chính trị và xã hội của người phụ nữ. Thông qua những hoạt động đấu tranh chính trị và xã hội, giới nữ đòi lại những lợi ích chính đáng của mình để đạt đến sự bình đẳng với nam giới.
Khái niệm “Công tác xã hội” Khái niệm Công tác xã hội: Theo Hiệp Hội cán bộ Xã hội quốc tế và Hiệp Hội các trường đào tạo công tác xã hội quốc tế định nghĩa:“Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự phát triển xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi. Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình. Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội”. Khái niệm “nhóm” Nhóm là một tập hợp người có từ hai người trở lên, giữa họ có một sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thực hiện hoạt động chung nhằm thoả mãn nhu cầu nào đó của tất cả các thành viên trong nhóm.
Tất cả các thành viên trong nhóm được điều chỉnh và tuân theo các qui tắc và thiết chế nhất định. Khái niệm “Công tác xã hội nhóm” Khái niệm Công tác xã hội nhóm: Là một phương pháp Công tác xã hội nhằm giúp tăng cường, củng cố chức năng xã hội của cá nhân thông qua 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các hoạt động tương tác giữa các thành viên trong nhóm. Các cá nhân sẽ được đáp ứng nhu cầu và giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động chung của nhóm [11]. Khái niệm “ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình” là việc trang bị các kiến thức, kỹ năng cho nạn nhân của bạo lực gia đình để họ có thể tự nhân diện nguy cơ, dấu hiệu, biểu hiện của người bạo lực, từ đó giảm hậu quả do người bạo lực gây ra và có các kỹ năng để tự mình thoát khỏi nguy cơ bị bạo lực.
Khái niệm “Công tác xã hội nhóm trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình” là việc nhân viên CTXH thông qua việc khích lệ các thành viên trong nhóm, là những người bị bạo lực gia đình, tương tác, chia sẻ, thực hiện các hoạt động chung của nhóm để từ đó tìm kiếm những giải pháp trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu tác hại của bạo lực gia đình đối với bản thân họ. Khái niệm “Bạo lực” Bạo lực được hiểu là “dùng sức mạnh để cưỡng bức, trấn áp hoặc lật đổ”. Khái niệm này dễ làm người ta liên tưởng tới các hoạt động chính trị, nhưng trên thực tế, bạo lực được coi như một phương thức hành xử trong các quan hệ xã hội nói chung. Khái niệm “Bạo lực gia đình” Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa “Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình” (Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007) [10].
Có 05 dạng bạo lực gia đình, gồm:bạo hành thể chất, bạo hành tinh thần, bạo hành kinh tế, bạo hành tình dục, bạo hành xã hội. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lý thuyết xung đột xã hội - Khái niệm: Thuyết xung đột xã hội bắt nguồn từ thuyết xung đột của nhà triết học nổi tiếng, đồng thời là một nhà xã hội học người Đức Karl Marx (1818-1883). Sau ông, các học giả khác như Gluckman, Gumplovicz, Pareto, Simmel, Dahrendorf và Collins,.
đã phát triển thuyết này theo hướng sâu hơn. Thuyết xung đột nhấn mạnh mâu thuẫn là một phần không tránh được trong mối quan hệ giữa con người với con người. Đồng thời, thuyết cũng cho rằng xung đột và mâu thuẫn đóng góp vào sự thay đổi không ngừng của xã hội. Thuyết này chủ yếu dùng để giải thích mâu thuẫn giữa các tầng lớp xã hội, giữa người giàu và người nghèo, hoặc giữa nhóm xã hội với nhau.
Giai cấp, quyền lực chính trị và địa vị chính trị là những yếu tố được đề cập trong thuyết xung đột. Đối với thuyết này, tất cả các thể chế chính trị, luật pháp và truyền thống trong xã hội được tạo ra để hỗ trợ vả bảo vệ người có quyền lực, hoặc nhóm người mà được xem như là người có địa vị cao hơn trong xã hội. - Đặc điểm của lý thuyết xung đột xã hội: + Là một tình huống hoặc quá trình của xã hội. + Xung đột xã hội là biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa các chủ thể khi giải quyết quan hệ lợi ích mâu thuẫn nhau.
+ Xung đột xã hội là hiện tượng xã hội khách quan, giải quyết quan hệ xã hội trung tâm là lợi ích, hợp thành bản chất của mọi xã hội, chứ không phải là một hiện tượng “lệch chuẩn xã hội” hay “hiện tượng bệnh lý” như quan điểm của thuyết chức năng - cấu trúc. + Xung đột xã hội được xác định là giai đoạn phát triển cao nhất của các mâu thuẫn trong hệ thống các quan hệ giữa con người với con người, các tập đoàn xã hội, các thiết chế xã hội và xã hội nói chung, được đặc trưng bằng 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự đối lập các lợi ích và quan điểm, được biểu hiện bằng các hành vi đụng độ, xô xát hữu hình trên thực tế. - Các dạng xung đột xã hội: + Xung đột giữa các quốc gia, các dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, giai cấp, các nền văn hóa, văn minh,. + Xung đột giữa các thành viên trong lãnh đạo, + Xung đột giữa các bộ phận trong tổ chức, + Xung đột giữa các giới (nam và nữ), + Xung đột giữa các thế hệ trong gia đình, + Xung đột giữa các thành viên với nhau.
- Nguyên nhân dẫn đến xung đột: + Cá nhân: do kỳ vọng khác nhau, sự khác biệt cá nhân, hiểu thiếu thông tin, vai trò, phạm vi không phù hợp, môi trường, cạnh tranh căng thẳng. Do sự bất bình đẳng xã hội trong việc phân phối tài sản, quyền lực, danh vọng và sự phân biệt kỳ thị về chủng tộc. + Trong nhóm: Do cạnh tranh nguồn lực, không thống nhất được mục tiêu, bị lệ thuộc công việc, tranh giành vị trí, khác biệt về nhận thức; sự chênh lệch về các nguồn lực; do sự mâu thuẫn về lợi ích, quan điểm, gia trị, niềm tin, văn hóa giữa các thành viên trong nhóm trong quá trình hoạt động; do sự căng thẳng, áp lực tâm lý từ người khác; do sự phân chia về quyền lợi, cũng như chức năng, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn về các nhu cầu hoặc vấn đề ưu tiên luôn xảy ra giữa các thành viên trong nhóm với nhau; do sự gián tiếp bị sai lệch thông tin dẫn đến hiểu sai nội dung và dẫn đến hành động sai. + Tổ chức: Do cơ cấu thứ bậc khác nhau, do mức độ tham gia của các thành viên không giống nhau, do hệ thống khen thưởng không bình đẳng, do vấn đề quyền lực, do môi trường làm việc; do sự bất đồng quan điểm giữa các bên; tranh giành quyền lực và sự ảnh hưởng (xung đột giai cấp, xung đột sắc tộc, xung đột giữa các tập đoàn,.); xung đột với các vấn đề liên quan đến tình 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cảm (xung đột gia đình, xung đột giới, .); xung đột liên quan đến vai trò trách nhiệm của các bên.
- Giải pháp giải quyết xung đột xã hội: những năm 1970, Kenneth Thomas và Ralph Kilman xác định 5 cách giải quyết xung đột, tùy theo mức độ hợp tác hay quyết đoán của cá nhân. Họ cho rằng mỗi người có xu hướng hành động theo một cách nhất định khi giải quyết xung đột. Tuy nhiên, họ cũng nói rằng mỗi cách khác nhau sẽ có ích trong một tình huống khác nhau. - Ứng dụng lý thuyết xung đột xã hội vào công tác xã hội nhóm: thuyết xung đột hỗ trợ chúng ta có thể giải thích được động cơ bên trong làm nên sự căng thẳng được xem là tác nhân gây ra các vấn đề xã hội.
Thông qua đó, nhân viên xã hội hỗ trợ và can thiệp vào nhóm để đưa ra những cách thức sử dụng trong việc giải quyết các vấn đề xung đột nhóm hiệu quả. NVXH hỗ trợ cho nhóm, tăng cường khả năng đối phó với sự mạo hiểm làm tăng thêm hiệu quả tối đa nguồn lực giúp nhóm tạo thêm nhiệm vụ và duy trì chức năng của nhóm. NVXH biết được các kỹ năng và cách thức điều chỉnh xung đột một cách sáng tạo, giúp các thành viên nhóm hiểu được các kỹ năng cơ bản, cách thức giải quyết mâu thuẫn, giúp các thành viên trong nhóm có mối quan hệ gắn bó với nhau hơn và đạt được hiệu quả cao hơn trong công việc. Lý thuyết nữ quyền tự do Xuất phát từ triết học tự do thế kỉ 16-17 (chủ nghĩa tự do ở Châu Âu, Bắc Mỹ) với quan điểm mọi cá nhân trong xã hội đều có tiềm năng trở thành người tư duy duy lí và sự bình đẳng giữa người với người đều được xem xét theo tinh thần thuật ngữ duy lí; mọi người được quản lí chỉ với sự đồng ý của chính họ và trong phạm vi giới hạn nhất định, trong đó chính phủ chỉ được điều tiết lĩnh vực công cộng và không thể hoặc chỉ được phép điều tiết lĩnh vực riêng tư một cách hạn chế.
Những người khởi xướng cho thuyết này là những người phụ nữ da trắng thuộc tầng lớp trung, thượng lưu trong xã hội, họ có điều kiện tiếp xúc với tư tưởng tự do. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.