Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống tài chính công của mỗi quốc gia, việc bảo đảm nguồn thu bền vững cho ngân sách nhà nước (NSNN) đóng vai trò then chốt nhằm duy trì chính sách tài khóa ổn định và giảm thiểu tác động tiêu cực từ các cú sốc kinh tế vĩ mô. Trong cơ cấu thu ngân sách từ thuế, phí và lệ phí, thuế giá trị gia tăng (GTGT) giữ vị trí đặc biệt quan trọng do tính chất đánh vào hầu hết các khâu từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Theo số liệu thống kê của Bộ Tài chính vào tháng 5/2021, tỷ trọng thu từ thuế GTGT (trừ phần hoàn thuế) chiếm 24,4% tổng thu NSNN giai đoạn 2011–2020; riêng thu thuế GTGT từ sản xuất và tiêu dùng trong nước chiếm 17% tổng thu NSNN.
Tuy nhiên, thực tế quản lý cho thấy hành vi gian lận thuế GTGT diễn ra ngày càng phức tạp, tinh vi dưới nhiều phương thức khác nhau. Số liệu từ Tổng cục Thuế ghi nhận trong năm 2020, cơ quan thuế đã chuyển hồ sơ sang cơ quan Công an đối với 162 trường hợp có dấu hiệu vi phạm mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp với quy mô lớn, gây thất thu ngân sách hàng nghìn tỷ đồng. Nhiều tổ chức, cá nhân đã lợi dụng kẽ hở pháp lý và cơ chế quản lý để trục lợi tiền hoàn thuế và trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế.
Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất: Làm rõ các nội dung cơ bản về lý luận thuế GTGT và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh thuế GTGT tại Việt Nam.
- Thứ hai: Phân tích thực trạng và nhận diện các phương thức, thủ đoạn gian lận thuế GTGT của doanh nghiệp phát sinh từ những kẽ hở pháp lý.
- Thứ ba: Đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện chính sách thuế, bịt kín các lỗ hổng trong văn bản pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý thuế GTGT.
Khóa luận tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Các văn bản pháp lý về thuế GTGT hiện nay của Việt Nam đang tồn đọng những kẽ hở nào?
- Các doanh nghiệp tại Việt Nam đã sử dụng những hình thức nào để gian lận thuế GTGT?
- Chính phủ và cơ quan quản lý cần thực hiện những giải pháp nào để giảm thiểu tình trạng gian lận thuế GTGT và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp lý?
- Đối tượng nghiên cứu: Các hành vi gian lận thuế GTGT thông qua kẽ hở của văn bản quy phạm pháp luật.
- Phạm vi nghiên cứu: Toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; dữ liệu và thực tiễn thi hành được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2015 đến hết năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng nền tảng nghiên cứu dựa trên các khái niệm và đặc điểm pháp lý của thuế GTGT theo quy định tại Điều 2 Luật Thuế giá trị gia tăng: thuế GTGT là loại thuế gián thu tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng, áp dụng theo nguyên tắc điểm đến và có phạm vi điều tiết rộng. Căn cứ tính thuế bao gồm giá tính thuế (Điều 7) và thuế suất (Điều 8). Về lịch sử biểu thuế, Luật Thuế GTGT có hiệu lực từ 01/01/1999 từng áp dụng 4 mức thuế suất (0%, 5%, 10%, 20%), sau đó Luật năm 2008 (sửa đổi, bổ sung 2016) điều chỉnh còn 3 mức: 0%, 5% và 10%.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả rà soát và sử dụng làm cơ sở đối chiếu bao gồm:
- Luật Thuế giá trị gia tăng năm 2008, Luật sửa đổi năm 2013, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế GTGT, Luật Thuế TTĐB và Luật Quản lý thuế năm 2016.
- Nghị định số 209/2013/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thuế GTGT; Nghị định số 51/2010/NĐ-CP về hóa đơn bán hàng hóa, dịch vụ.
- Hệ thống Thông tư hướng dẫn của Bộ Tài chính: Thông tư 219/2013/TT-BTC, Thông tư 119/2014/TT-BTC, Thông tư 26/2015/TT-BTC, Thông tư 173/2016/TT-BTC, Thông tư 130/2016/TT-BTC, Thông tư 31/2017/TT-BTC, Thông tư 93/2017/TT-BTC, Thông tư 25/2018/TT-BTC, Thông tư 06/2012/TT-BTC, Thông tư 71/2010/TT-BTC và Thông tư 92/2015/TT-BTC.
- Tổng quan nghiên cứu quốc tế (Keen & Lockwood 2010; Gadisa Abdata 2013; Schenk 2015; Adhikari 2020; Giesecke & Tran 2012; Alhussain 2020) và các công trình trong nước (Nguyễn Thị Thanh Vân 2010; Nghiêm Thị Thà 2012; Mai Thanh Thúy 2012; Lê Xuân Trường & Nguyễn Đình Chiến 2012; Trịnh Khánh Hòa 2013; Vũ Thị Mai Lan 2015; Nguyễn Thị Thùy Trang 2016; Phạm Thị Thanh 2017; Trần Yến 2019; Hiền Trâm 2020; Nguyễn Tài Tuấn 2020; Lê Mai Anh 2021; Khắc Niệm 2021; Văn Tuấn 2021; Trung Tài 2021; Hồng Vân 2021; Đông Dương 2021).
Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo quy trình 4 bước: (1) Xác định vấn đề nghiên cứu; (2) Xây dựng khung lý thuyết và lập kế hoạch thu thập thông tin; (3) Phân tích thông tin; (4) Trình bày kết quả nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ các nguồn công bố chính thức của Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan, cơ quan Cảnh sát điều tra và các tạp chí chuyên ngành; kết hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết, thống kê mô tả, so sánh và đối chiếu quy định pháp lý với các hành vi vi phạm thực tế.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế GTGT và các văn bản về thuế GTGT ở Việt Nam
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận về thuế GTGT, phân tích quyền và nghĩa vụ của người nộp thuế, điều kiện khấu trừ thuế đầu vào (hóa đơn hợp pháp, thanh toán qua ngân hàng đối với giao dịch từ 20 triệu đồng trở lên), các trường hợp hoàn thuế GTGT (Điều 13) và quy chế quản lý hóa đơn, chứng từ.
Tác giả phân loại và chỉ rõ các phương thức gian lận thuế có khả năng phát sinh trong hai nhóm hoạt động:
- Kinh doanh nội địa: (1) Bỏ ngoài sổ sách kế toán qua việc sử dụng hai hệ thống sổ sách; (2) Tạo giao dịch bán hàng giả mạo (hợp đồng khống, hóa đơn khống, xuất khẩu khống sang thị trường lân cận như Campuchia); (3) Tạo giao dịch mua hàng giả mạo (chi khống, mua hóa đơn từ các doanh nghiệp "ma"); (4) Ghi giá bán trên hóa đơn thấp hơn giá thực tế giao dịch ("down" giá); (5) Hạch toán sai tài khoản kế toán (đưa doanh thu vào tài khoản 338, 138 thay vì tài khoản 511; hạch toán chi phí cá nhân, chi phí không đúng quy định vào chi phí hợp lý để tăng thuế khấu trừ).
- Hoạt động xuất nhập khẩu: (1) Buôn lậu, khai thiếu số lượng; (2) Khai sai tên hàng, chủng loại và áp sai mã HS từ thuế suất cao sang thuế suất thấp; tháo rời bộ phận sản phẩm hoàn chỉnh để khai báo dưới dạng linh kiện; (3) Khai sai xuất xứ hàng hóa, làm giả giấy chứng nhận xuất xứ (C/O) để hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt; (4) Khai thấp hoặc khai tăng trị giá tính thuế hải quan; (5) Giả mạo chứng từ nộp thuế, hồ sơ dự án đầu tư hoặc lợi dụng loại hình tạm nhập tái xuất để thẩm lậu hàng hóa vào thị trường nội địa.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình thiết kế nghiên cứu 4 bước của tác giả:
- Bước 1 - Xác định vấn đề nghiên cứu: Tập trung vào những kẽ hở trong các văn bản pháp lý hiện hành dẫn đến hành vi gian lận thuế GTGT tại doanh nghiệp.
- Bước 2 - Xây dựng khung lý thuyết và thu thập dữ liệu: Tìm kiếm, rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thuế GTGT, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn và các bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành.
- Bước 3 - Phân tích thông tin: Đọc hiểu, phân loại dữ liệu thứ cấp thu thập được, phân loại các hành vi gian lận và đánh giá kẽ hở pháp lý liên quan.
- Bước 4 - Trình bày kết quả: Tổng hợp kết quả phân tích lý luận và thực trạng, đánh giá các điểm tồn tại và đưa ra các đề xuất, giải pháp hoàn thiện chính sách.
Nguồn dữ liệu được xác định là dữ liệu thứ cấp bên ngoài, bảo đảm độ tin cậy thông qua việc so sánh, đối chiếu đa chiều giữa quy định pháp luật và các số liệu thống kê thực tế.
Chương 3: Phân tích những kẽ hở trong các văn bản pháp luật về thuế GTGT ở Việt Nam và thực tế gian lận thuế GTGT ở Việt Nam
Chương 3 đi sâu phân tích thực trạng thi hành chính sách khấu trừ, hoàn thuế và làm rõ các thủ đoạn vi phạm điển hình dựa trên những kẽ hở của các văn bản pháp luật:
- Tác động điều chỉnh chính sách hoàn thuế: Việc bãi bỏ quy định hoàn thuế cho trường hợp có thuế đầu vào chưa khấu trừ hết lũy kế từ 12 tháng hoặc 4 quý trở lên (hiệu lực từ 01/7/2016) đã kéo tỷ lệ số thuế GTGT được hoàn so với số thu thuế GTGT giảm từ 26,9% năm 2016 xuống xấp xỉ 24% trong giai đoạn 2017–2018. Đến năm 2019, tỷ lệ này tăng lên 26,8% do sự gia tăng của các dự án đầu tư mới (vốn đầu tư toàn xã hội năm 2019 tăng 10,3% so với 2018, vốn FDI giải ngân đạt 20,38 tỷ USD, tăng 6,7%).
- Lợi dụng giá tính thuế và khấu trừ sai quy định: DNNVV thường không phân bổ hoặc phân bổ sai thuế đầu vào giữa hàng chịu thuế và không chịu thuế; kê khai khấu trừ hàng biếu tặng, quà tặng, chi trang phục vượt mức hoặc chi tiêu cá nhân; trì hoãn xuất hóa đơn khi công trình xây dựng đã bàn giao; không đáp ứng đủ điều kiện về chứng từ thanh toán qua ngân hàng đối với hàng xuất khẩu thuế suất 0% (như thanh toán qua tài khoản cá nhân của chủ doanh nghiệp).
- Không xuất hóa đơn khi bán hàng: Lợi dụng quy định tại Nghị định 51/2010/NĐ-CP (giao dịch dưới 200.000 đồng không bắt buộc lập hóa đơn trừ khi người mua yêu cầu), các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, giải trí thường xuyên bỏ qua việc xuất hóa đơn đối với cả các khoản tiền lớn, hoặc đòi thêm 10% nếu khách hàng muốn lấy hóa đơn nhằm giữ lại phần tiền thuế GTGT.
- Khai thấp giá trị chuyển nhượng bất động sản: Dựa trên kẽ hở của Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC (cho phép áp dụng bảng giá đất nhà nước khi hợp đồng ghi giá thấp hơn hoặc không ghi rõ, trong khi giá thị trường thực tế cao hơn khung giá từ 50–70%), các bên giao dịch ghi giá bán trên hợp đồng thấp hơn nhiều lần so với thực tế để trốn thuế.
- Trục lợi hoàn thuế xuất khẩu: Lợi dụng cơ chế phân luồng hải quan (luồng xanh được miễn kiểm tra thực tế) và cơ chế "hoàn trước, kiểm tra sau" để lập hồ sơ khống, xuất khẩu hàng hóa ít hơn khai báo, xuất sai chủng loại hoặc quay vòng hàng hóa qua biên giới.
- Kê khai định mức hao hụt: Lợi dụng Khoản 1 Điều 14 Thông tư 06/2012/TT-BTC về hao hụt tự nhiên trong vận chuyển, bơm rót (xăng, dầu...) để kê khai mức hao hụt cao hơn thực tế nhằm tăng số thuế đầu vào được khấu trừ.
- Lạm dụng kê khai bổ sung: Lợi dụng quy định cho phép kê khai bổ sung nhiều lần và bù trừ vào kỳ hiện tại để trì hoãn nghĩa vụ nộp thuế của kỳ trước, chỉ phải chịu tiền chậm nộp 0,05%/ngày thay vì nộp ngay khoản thuế lớn phát sinh.
Chương 3 tổng kết 5 nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng gian lận: (1) Luật Doanh nghiệp không quy định xác nhận lý lịch tư pháp của người thành lập và quản lý doanh nghiệp, tạo điều kiện thành lập doanh nghiệp "ma"; (2) Sự phối hợp liên ngành giữa Thuế, Hải quan, Công an, Quản lý thị trường còn thiếu chặt chẽ; (3) Công tác giáo dục tư tưởng, kiểm tra nội bộ chưa đáp ứng yêu cầu; (4) Ý thức tuân thủ pháp luật của người nộp thuế còn thấp; (5) Áp lực và chi phí quản lý quá lớn từ cơ chế "tiền kiểm thoáng, hậu kiểm chặt".
Chương 4: Một số đề xuất và kiến nghị để hoàn thiện chính sách thuế giá trị gia tăng nhằm ngăn chặn hành vi gian lận thuế ở Việt Nam
Trên cơ sở các kẽ hở được chỉ ra, tác giả đề xuất nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Định hướng hoàn thiện văn bản pháp luật: Bổ sung ngưỡng doanh thu bắt buộc áp dụng phương pháp khấu trừ (từ 1 tỷ đồng/năm trở lên đối với cơ sở kinh doanh); thu hẹp danh mục đối tượng không chịu thuế GTGT sang danh mục cụ thể, đặc thù.
- Ứng dụng công nghệ thông tin: Đẩy mạnh giao dịch điện tử, tích hợp dịch vụ công trực tuyến lên Cổng dịch vụ công Quốc gia; cung cấp miễn phí phần mềm Hỗ trợ kê khai (HTKK); bảo đảm kết nối thông tin tự động giữa 4 ngành Thuế - Hải quan - Kho bạc - Tài chính.
- Cải cách cơ chế thanh tra, kiểm tra: Thống nhất cơ quan có thẩm quyền thanh tra theo hướng chỉ đạo tập trung; siết chặt quy trình xác nhận hàng hóa xuất khẩu đường bộ sang các nước láng giềng nhằm ngăn chặn quay vòng hàng hóa; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu người nộp thuế để ứng dụng kỹ thuật quản lý rủi ro.
- Quản lý hóa đơn và thành lập doanh nghiệp: Đẩy mạnh hóa đơn điện tử tự in có kiểm soát; bắt buộc quy định xác nhận lý lịch tư pháp đối với người thành lập và quản lý doanh nghiệp nhằm triệt tiêu thủ đoạn lập công ty "ma" bán hóa đơn khống.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa các vụ việc vi phạm thực tế nhằm làm rõ mức độ thất thu NSNN do gian lận thuế GTGT gây ra:
| Vụ việc / Đơn vị vi phạm |
Hành vi gian lận chính |
Quy mô sai phạm / Thất thu thuế |
Căn cứ / Nguồn ghi nhận |
| Công ty TNHH Thông tin tín nhiệm và Xếp hạng DN Việt Nam |
Không ghi nhận vào sổ sách kế toán tiền bán quyền mua căn hộ |
Trốn thuế 1.028 triệu đồng |
Hồ sơ vụ việc trốn thuế nội địa |
| Công ty Viễn thông điện lực |
Bán hàng không xuất hóa đơn, không phản ánh vào sổ sách |
Trốn thuế 37 tỷ đồng |
Hồ sơ vụ việc trốn thuế nội địa |
| Xuất khẩu tiểu ngạch sang Campuchia (2011–2012) |
Xuất khẩu khống, quay vòng hàng hóa để hoàn thuế GTGT |
Số tiền hoàn thuế năm 2011 tăng 196,4% so với 2010; năm 2012 tăng 190% so với 2011 |
Dữ liệu quản lý xuất nhập khẩu |
| Cục Thuế TP. Hà Nội (Năm 2012) |
Mua bán, sử dụng hóa đơn bất hợp pháp để khấu trừ chi khống |
Phát hiện 786 hóa đơn vi phạm; truy thu 1.198 triệu đồng thuế GTGT, 1.658 triệu đồng thuế TNDN; phạt trốn thuế 646 triệu đồng, phạt hành chính 369 triệu đồng |
Kết quả xác minh 10.200 phiếu (28.444 số hóa đơn) |
| Tổng cục Hải quan (Thống kê mẫu phân tích) |
Khai sai mã số hàng hóa, tên hàng để hạ mức thuế suất |
Trong 10.000 mẫu phân tích/năm: 53% mẫu khai sai, làm giảm 7,4% tiền thuế |
Thống kê phân loại hàng hóa |
| Hoạt động Tạm nhập tái xuất ô tô |
Không tái xuất, tiêu thụ hàng hóa nhập khẩu trong nội địa |
Nhập 500 ô tô nhưng chỉ tái xuất 100 chiếc; 400 chiếc thẩm lậu nội địa |
Thống kê của Hải quan |
| Buôn lậu xăng dầu qua hình thức tạm nhập tái xuất |
Tạm nhập tái xuất khống qua đường biển và đường bộ |
Vụ Thanh Hóa (7/2012): Xăng A92 trị giá 27 tỷ đồng; Vụ Vinapco: 296,6 tấn xăng A92 trị giá 8 tỷ đồng, gian lận 2,5 tỷ đồng tiền thuế |
Báo cáo cơ quan chức năng |
| Vụ án chuyển nhượng BĐS tại Phú Yên & Bình Định (2021) |
Kê giá hợp đồng chuyển nhượng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế |
Phú Yên: 259 thửa đất, thất thu > 2,4 tỷ đồng; Bình Định: 259 thửa đất, giá hợp đồng 157 tỷ đồng vs thực tế 320 tỷ đồng, trốn > 2 tỷ đồng thuế |
Báo Nhân Dân (13/5/2022) |
| Công ty TNHH TM DV BĐS Vincomreal (Bà Rịa - Vũng Tàu) |
Kê khai giá bán thấp trên hợp đồng chuyển nhượng đất nền |
Hợp đồng 70 lô đất ghi 50 triệu đồng/lô (thực tế 700 triệu đồng/lô) |
Báo Công An nhân dân (14/2/2022) |
| Công ty Cổ phần XNK SCI (Hà Tĩnh, 2015) |
Mở tờ khai hải quan khống (Cầu Treo, Cha Lo), mua 218 hóa đơn khống từ 11 DN |
Dựng khống hồ sơ trị giá 258 tỷ đồng hàng xuất khẩu, chiếm đoạt trên 8,3 tỷ đồng tiền hoàn thuế GTGT |
Báo Hà Tĩnh (23/7/2015) |
| Công ty TNHH JUNMA Phú Thọ & Công ty CP TM Xăng dầu Phát |
Thành lập mạng lưới công ty "ma" để mua bán hóa đơn GTGT khống |
Doanh số hóa đơn JUNMA lên tới 2.000 tỷ đồng; Đường dây Ngô Văn Phát lên tới hàng nghìn tỷ đồng |
Báo Điện tử Chính phủ (15/9/2021) |
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự xác định khóa luận đã khắc phục khoảng trống nghiên cứu của các công trình trước đó (vốn thường chỉ tiếp cận đơn lẻ một vài hành vi riêng biệt) bằng cách tổng hợp, hệ thống hóa và bóc tách đồng thời toàn diện các hành vi gian lận thuế GTGT trong cả hai mảng kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu, gắn liền trực tiếp với các kẽ hở điều khoản trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tập trung nghiên cứu dựa trên dữ liệu thứ cấp và các vụ việc đã phát sinh trong giai đoạn 2015–2021 trên phạm vi toàn quốc. Do tính chất hạn chế của các phương pháp đối chiếu thủ công trong giai đoạn này và đặc thù số liệu gian lận thuế thường khó bao quát toàn bộ quy mô kinh tế ngầm, nghiên cứu chưa lượng hóa được mô hình hồi quy tác động định lượng của từng chính sách cụ thể đến hành vi gian lận.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, các đề tài liên quan có thể mở rộng nghiên cứu tác động của việc áp dụng hóa đơn điện tử bắt buộc theo Nghị định 123/2020/NĐ-CP và Thông tư 78/2021/TT-BTC đối với việc ngăn ngừa gian lận thuế trong giai đoạn sau năm 2021.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kế toán, Kiểm toán và Luật Kinh tế khi nghiên cứu về chính sách thuế GTGT và rủi ro tuân thủ pháp luật thuế.
- Cán bộ quản lý thuế, thanh tra thuế và hải quan trong việc nhận diện các dấu hiệu rủi ro, phân loại thủ đoạn trốn thuế phổ biến trong hoạt động xuất nhập khẩu và giao dịch bất động sản.
- Các nhà nghiên cứu và lập pháp cần tài liệu đối chiếu thực tiễn thi hành các văn bản pháp luật thuế giai đoạn 2015–2021.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ hoàn thuế GTGT so với tổng thu thuế GTGT tại Việt Nam giai đoạn 2016–2019 biến động như thế nào và do nguyên nhân gì?
Tỷ lệ này giảm từ 26,9% năm 2016 xuống xấp xỉ 24% trong các năm 2017 và 2018 nhờ việc bãi bỏ chính sách hoàn thuế cho doanh nghiệp có thuế đầu vào chưa khấu trừ hết lũy kế từ 12 tháng/4 quý trở lên (hiệu lực từ 01/7/2016). Đến năm 2019, tỷ lệ này tăng trở lại mức 26,8% do số dự án đầu tư mới tăng mạnh, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% và giải ngân vốn FDI đạt mức kỷ lục 20,38 tỷ USD.
2. Thủ đoạn gian lận thuế GTGT trong việc tính định mức hao hụt xăng dầu dựa trên kẽ hở pháp lý nào?
Thủ đoạn này lợi dụng Khoản 1 Điều 14 Thông tư 06/2012/TT-BTC cho phép khấu trừ thuế GTGT đầu vào đối với hao hụt tự nhiên do tính chất lý hóa trong vận chuyển, bơm rót. Do cơ quan thuế gặp hạn chế về trình độ kỹ thuật chuyên môn và thiếu chuyên gia giám định lý hóa, doanh nghiệp đã cố tình kê khai định mức hao hụt cao hơn thực tế để tăng số thuế được khấu trừ.
3. Doanh nghiệp lợi dụng kẽ hở kê khai bổ sung thuế GTGT để chiếm dụng tiền thuế như thế nào?
Doanh nghiệp cố tình khai tăng thuế đầu vào ở tháng đầu tiên để không phải nộp khoản thuế phát sinh (ví dụ 50 triệu đồng). Đến các tháng tiếp theo, khi phát sinh số thuế được khấu trừ lớn, doanh nghiệp mới làm tờ khai điều chỉnh bổ sung, qua đó chiếm dụng vốn thuế trong nhiều tháng và chỉ phải trả khoản tiền chậm nộp rất nhỏ tính theo tỷ lệ 0,05%/ngày.
4. Kẽ hở trong quy định nào tạo điều kiện cho hành vi gian lận thuế khi chuyển nhượng bất động sản?
Hành vi này xuất phát từ Điều 17 Thông tư 92/2015/TT-BTC, cho phép áp dụng khung giá đất do Nhà nước quy định khi hợp đồng không ghi rõ hoặc giá ghi thấp hơn khung giá. Do bảng giá đất nhà nước thường thấp hơn giá thị trường thực tế từ 50–70%, các bên cố tình ghi giá giao dịch trên hợp đồng rất thấp để giảm số tiền thuế phải nộp.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Nguyễn Hiền Phương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và phân tích sâu sắc thực trạng gian lận thuế GTGT tại Việt Nam giai đoạn 2015–2021. Công trình chỉ rõ các thủ đoạn trốn thuế, trục lợi tiền hoàn thuế trong kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu bắt nguồn từ những kẽ hở cụ thể trong hệ thống văn bản pháp quy. Trên cơ sở nhận diện 5 nhóm nguyên nhân cốt lõi, tác giả đề xuất các nhóm giải pháp đồng bộ từ hoàn thiện thể chế, ứng dụng công nghệ thông tin liên ngành đến siết chặt quản lý hóa đơn và điều kiện thành lập doanh nghiệp.