CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GTGT VÀ CÁC VĂN BẢN VỀ THUẾ GTGT Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu trong nước Nguyễn Thị Thanh Vân (2010), “Gian lận thuế Giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp thương mại Việt Nam thực trạng và giải pháp”. Bằng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phân tích số liệu, bài viết đánh giá được tình trạng gian lận thuế Giá trị gia tăng tại các doanh nghiệp thương mại Việt Nam, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp khách quan nhằm phòng chống tình trạng gian lận thuế cho các doanh nghiệp.
Nghiêm Thị Thà (2012), “Một số bất cập trong quá trình thực hiện Luật Thuế GTGT”. Trong bài viết, tác giả đã đề ra bốn bất cập cần giải quyết trong việc thực hiện Luật thuế GTGT bên cạnh những ưu điểm vốn có. Đối với mỗi bất cập được nêu trong bài viết thì tác giả luôn đi kèm với các giải quyết hoặc khắc phục vấn đề đó một cách cụ thể. “Pháp luật quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam- Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Bài nghiên cứu có tính hệ thống, toàn diện về pháp luật thuế trong nền kinh tế Việt Nam bằng cách kết hợp các phương pháp phân tích thống kê để rút ra những kết luận khoa học làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng, định hướng giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế ở Việt Nam.
Mai Thanh Thúy (2012), “Hạn chế gian lận thuế Giá trị gia tăng của các doanh nghiệp thương mại tại tỉnh Tiền Giang”. Luận văn này đã hoàn thiện mục đích chính là xác định các yếu tố chủ yếu tác động đến hành vi gian lận thuế Giá trị gia tăng trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, sử dụng mô hình nghiên cứu hành vi gian lận, kiểm định mô hình giả thuyết, giúp đo lường được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động đến hành vi gian lận thuế. Ngoài ra nghiên cứu này cũng góp phần gợi ý xây dựng thang đo về phát hiện gian lận cho các cơ quan quản lý trên toàn quốc. Lê Xuân Trường, Nguyễn Đình Chiến (2012), “Nhận diện các hành vi gian lận thuế”.
Tại bài viết này, ngoài việc chỉ ra các hành vi gian lận thuế trong nước và trong hoạt động xuất nhập khẩu mà tác giả còn đưa thêm các minh chứng cụ thể cho từng hành vi gian lận. Từ đó tác giả đã nêu ra các giải pháp cơ bản mang tính nguyên tắc cần thực hiện để chống gian lận thuế. 9 Trịnh Khánh Hòa (2013), “Tăng cường chống gian lận thuế Giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Nam Định”. Bài nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Nam Định, tác giả đã từ những kết quả thu được mà đưa ra một số giải pháp cụ thể có tính khả thi mà khi thực hiện tốt sẽ hoàn thiện phương pháp quan quản lý thuế giá trị gia tăng tại Cục thuế tỉnh Nam Định.
Vũ Thị Mai Lan (2015), “Thực thi pháp luật về kiểm soát gian lận hoàn thuế Giá trị gia tăng trên địa bàn thành phố Hà Nội”. Nghiên cứu đã làm rõ sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hoàn thuế GTGT và đã phân tích, bình luận, đánh giá toàn diện, khách quan về tình hình thực thi pháp luật kiểm soát gian lận hoàn thuế GTGT trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghiên cứu chủ yếu sử dụng các phương pháp sưu tầm tài liệu, phân tích tài liệu, tổng hợp, so sánh. Nguyễn Thị Thùy Trang (2016), “Thực tiễn thi hành pháp luật về khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng tại chi cục thuế huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”.
Bằng những phương pháp thống kê tổng hợp, kết hợp với đối chiếu, so sánh, bài luận văn đã chỉ rõ được thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật khấu trừ thuế và hoàn thuế giá trị gia tăng tại chi cục thuế huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, đồng thời đưa ra một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật. Phạm Thị Thanh (2017), “Một số vấn đề về gian lận thuế của các doanh nghiệp”. Ở bài viết, tác giả đã nêu ra tình hình trốn thuế, gian lận thuế của các doanh nghiệp, điển hình như: một số công ty đa quốc gia (Google, Facebook, .); các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) hay thông qua việc lập các công ty con hoặc mua bán hóa đơn khống từ các doanh nghiệp khác. Từ đó tác giả đã nêu ra một số biện pháp đẩy mạnh phòng chống gian lận thuế.
Trần Yến (2019), “Bài 2: Những “kẽ hở” trong quản lý thuế”. Ở bài viết này, tác giả đã nêu ra ba “kẽ hở” còn tồn tại trong quản lý thuế là hoàn thuế GTGT, thu hồi nợ đọng thuế và cuối cùng là “lỗ hổng” từ đội ngũ cán bộ thuế. Tuy nhiên bài viết mới dừng lại ở việc nêu ra các vấn đề trong việc quản lý thuế và chưa đưa ra giải pháp nào để giải quyết các vấn đề trên. Hiền Trâm (2020), “Lợi dụng kẽ hở thành lập doanh nghiệp mua bán hoá đơn trái phép”.
Hình thức mua bán hóa đơn trái phép để gian lận thuế GTGT đã được tác giả nêu rõ ràng về cách thức thực hiện cũng như dẫn chứng về các cá nhân, doanh nghiệp đã bị công an triệt phá 10 khi lợi dụng kẽ hở pháp lý để thực hiện hành vi mua bán hóa đơn trái phép này. Từ đó đưa ra 2 kiến nghị để khắc phục hình thức gian lận này. Nguyễn Tài Tuấn (2020), “Các hành vi gian lận thuế thường gặp của doanh nghiệp”. Tác giả bài viết đã liệt kê ra 4 hình thức gian lận thuế GTGT của doanh nghiệp hiện đang được sử dụng phổ biến, ngoài ra tác giả cũng liệt kê thêm các hình thức gian lận thuế thu nhập doanh nghiệp.
Bài viết đã cung cấp thêm kiến thức cho người đọc về các hành vi gian lận thuế tuy nhiên cũng chưa đưa ra được giải pháp kiến nghị để giảm thiểu gian lận. Lê Mai Anh (2021), “Luật thuế giá trị gia tăng và thực tiễn thi hành nhìn từ các hành vi vi phạm”. Bài luận văn đã chỉ ra tống quan về thuế GTGT và luật thuế GTGT, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế trong luật thuế từ đó chỉ ra các hành vi lợi dụng hạn chế trong luật để gian lận thuế GTGT. Từ đó đưa ra các định hướng kiến nghị để hoàn thiện luật pháp.
Khắc Niệm (2021), “Thuế giá trị gia tăng 2021: 8 quy định cơ bản cần biết”. Ở bài viết này, những quy định mới về thuế GTGT đã được tác giả đưa ra đầy đủ để người đọc hiểu rõ hơn về luật thuế GTGT như những đối tượng nộp thuế, những hàng hóa và dịch vụ không phải kê khai nộp thuế, cách tính thuế và hoàn thuế. Văn Tuấn (2021), “Gian nan cuộc chiến chống trục lợi tiền hoàn thuế giá trị gia tăng”. Bài báo đã đưa ra hình thức gian lận thuế GTGT qua việc khai khống giá trị hàng hóa để được hoàn thuế GTGT, đi kèm với các phương pháp gian lận này là các minh chứng điển hình được dẫn ra để chứng minh sự tỉnh vi của các doanh nghiệp hiện nay trong việc gian lận thuế GTGT.
Bài viết cũng chỉ ra nguyên nhân dẫn đến các hành vi gian lận này là công tác quản lý doanh nghiệp chưa hiệu quả. Trung Tài (2021), “Tổng cục Hải quan liệt kê nhiều hành vi gian lận hoàn thuế GTGT”. Bai báo đã liệt kê ra các hành vi gian lận hoàn thuế GTGT bởi Tổng cục Hải quan thông qua công tác điều tra chống buôn lậu gian lận thương mại như lợi dụng các quy định trong việc thành lập doanh nghiệp, phát hành hóa đơn GTGT hay các chính sách ưu đãi về thủ tục hải quan. Hồng vân (2021), “Quyết liệt cuộc chiến chống gian lận hoàn thuế giá trị gia tăng”.
Bài viết nêu cu thể những thủ đoạn phổ biến trong hoàn thuế GTGT hay một số chiêu trò gian lận lợi dụng ưu đãi thủ tục hải quan. Từ đó, đưa ra các giải pháp để chống thất thu tiền hoàn thuế như kiểm tra từ sớm, phát hiện từ xa và ứng dụng công nghệ hiện đại để chống gian lận hoàn thuế. 11 Đông Dương (2021), “Nhận diện hành vi trốn thuế, gian lận thuế của doanh nghiệp vừa và nhỏ”. Các hành vi gian lận thuế GTGT đã được liệt kê một cách chỉ tiết và đầy đủ như hành vi gian lận liên quan đến chứng từ, hóa đơn, hay khấu trừ thuế GTGT của hàng hóa hoặc kê khai trước thời điểm có chứng từ nộp ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được giải pháp nhằm hạn chế các hành vi gian lận này. Vì đặc thù của kế toán Việt Nam còn có những điểm không giống với kế toán các nước trên thế giới nên nhóm tác giả xin phép không tổng hợp các nghiên cứu nước ngoài về hành vi lợi dụng kẽ hở của luật pháp dẫn tới hành vi gian lận thuế GTGT. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Keen và Lockwood (2010), bản chất của thuế GTGT là nó được tính cho tất cả các doanh nghiệp và sự tồn tại của nó là do thuế phải trả cho doanh thu của thương nhân. Thuế GTGT cuối cùng sẽ được áp dụng nếu chuỗi đáng tin cậy ổn định và được thu thập chính xác từ hàng nhập khẩu và chỉ được gửi đi xuất khẩu ở lần tiêu dùng cuối cùng.
Gadisa Abdata (2013) mô tả các hình thức không tuân thủ chính đặc biệt đối với thuế GTGT, xem xét cách giải quyết chúng và đánh giá bằng chứng về mức độ của chúng ở các quốc gia có thu nhập cao. Mặc dù không nên phóng đại tầm quan trọng thực tế của những khó khăn hiện tại ở EU, nhưng các biện pháp hành chính đơn thuần có thể không đủ để giải quyết chúng và cần phải thiết kế lại cơ bản cách xử lý thuế GTGT đối với thương mại nội khối. Những khó khăn hiện tại ở EU phần lớn phản ánh những hoàn cảnh không áp dụng được ở Hoa Kỳ. Schenk (2015), nói một cách toàn diện, trung lập và đúng logic, VAT đã được thiết kế để đánh thuế chuỗi sản xuất và tiêu dùng cá nhân.
Trong thập kỷ tiếp theo của thế kỷ 20, VAT vẫn là cải cách thuế sâu rộng nhất trên thế giới và là nguồn thu chính của chính phủ. Thuế GTGT được sử dụng rộng rãi ở các nước đang phát triển và đang phát triển.