Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về quản lý và năng lực điều dưỡng 1. Khái niệm về quản lý Theo “Tài liệu đào tạo tăng cường năng lực quản lý Điều dưỡng” [9] tổng hợp thì có rất nhiều các khái niệm, định nghĩa về quản lý. Theo Henri Fayol: Quản lý là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều phối và kiểm soát, Mary Parker Follet (1868-1933) lại cho rằng: Quản lý là nghệ thuật làm cho các công việc được thực hiện bởi mọi người; Theo Harold Koontz (1909 -1984) thì “Quản lý là một nghệ thuật làm cho mọi công việc được thực hiện thông qua các nhóm người trong một tổ chức chính thức được thực hiện bởi mọi người”. Quản lý là yếu tố thiết yếu trong đời sống con người và xã hội.
Mọi tổ chức, mọi xã hội muốn phát triển đều phải có quản lý và nâng cao trình độ quản lý. Quản lý điều dưỡng trong bệnh viện có các cấp độ: Điều dưỡng trưởng bệnh viện, điều dưỡng trưởng khối và điều dưỡng trưởng khoa. Điều dưỡng trưởng bệnh viện: Là người điều dưỡng quản lý cấp cao nhất trong bệnh viện; Chịu trách nhiệm trước ban giám đốc bệnh viện đối với toàn bộ các hoạt động điều dưỡng và kết quả hoạt động của các điều dưỡng trong bệnh viện; Chịu trách nhiệm đề ra chiến lược cho các hoạt động điều dưỡng. Điều dưỡng trưởng khối: Là điều dưỡng quản lý dưới quyền của điều dưỡng trưởng bệnh viện, chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của các ĐDTK thuộc khối lâm sàng mình phụ trách.
Điều dưỡng trưởng khối có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện phương hướng, đường lối, chiến lược của điều dưỡng trưởng bệnh viện đã được phê duyệt cho các bộ phân chuyên môn của ngành. Điều dưỡng trưởng khoa: Là người đứng đầu các điều dưỡng của một khoa, chịu trách nhiệm về các kết quả hoạt động của các điều dưỡng của khoa mình phụ trách. ĐDTK cũng là điều dưỡng trung gian có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện các phương hướng hoạt động, đường lối của điều dưỡng trưởng bệnh viện. Nhiệm vụ 5 quản lý của ĐDTK thể hiện ở 3 khía cạnh: quản lý chăm sóc người bệnh, quản lý nhân viên và quản lý khoa phòng.
Và những nhiệm vụ này được cụ thể hóa trong thông tư 31/2021/TT-BYT quy định hoạt động ĐD trong bệnh viện với 15 nhiệm vụ cụ thể như sau [12]: - Chịu trách nhiệm trước trưởng khoa và trưởng phòng điều dưỡng về các hoạt động điều dưỡng tại khoa. - Lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động điều dưỡng tại khoa. - Xây dựng bản mô tả vị trí việc làm và phân công nhiệm vụ của điều dưỡng, hộ lý trợ giúp chăm sóc và các vị trí khác theo chỉ đạo của trưởng khoa. - Quản lý người bệnh: số lượng, tình trạng, diễn biến, các chỉ định điều trị, chăm sóc để kịp thời phân công và điều phối nhân lực thực hiện chăm sóc điều dưỡng.
- Tham gia đi buồng hằng ngày với lãnh đạo khoa. - Tổ chức, chủ trì các cuộc họp điều dưỡng định kỳ, đột xuất và cuộc họp người bệnh, người nhà người bệnh khi cần thiết. - Quản lý, đào tạo và phát triển nhân lực điều dưỡng trong khoa. - Đề xuất nhu cầu tuyển dụng, thuyên chuyển, đào tạo điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật y, hộ lý trợ giúp chăm sóc của khoa.
- Tham gia nghiên cứu khoa học, cải tiến chất lượng và chỉ đạo tuyến theo sự phân công. - Tham gia trực và trực tiếp chăm sóc người bệnh khi cần. - Tham gia đề xuất cung cấp, sửa chữa, bảo dưỡng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị, phương tiện, thuốc, vật tư, hóa chất phục vụ chăm sóc người bệnh và giám sát sử dụng tại khoa, Giám sát việc sử dụng và bảo quản theo quy định. - Giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch công tác điều dưỡng tại khoa và cải tiến chất lượng chăm sóc điều dưỡng.
- Định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo hoạt động điều dưỡng trong khoa. - Nhận xét, đề xuất khen thưởng, kỷ luật, tăng lương và học tập đối với điều 6 dưỡng, hộ lý trợ giúp chăm sóc trong khoa. - Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được trưởng khoa và trưởng phòng điều dưỡng phân công. Khái niệm về năng lực.
Theo các nhà tâm lí học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm và thuộc tính tâm lí cá nhân, phù hợp với những yêu cầu đặc trung của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao. Theo góc độ của các nhà quản lý nhân sự thì năng lực là kiến thức, kỹ năng, khả năng và hành vi mà người lao động cần phải có để đáp ứng yêu cầu công việc, và là yếu tố giúp một cá nhân làm việc hiệu quả hơn người khác. Theo Bernard Wyne và David Stringer thì năng lực bao gồm kỹ năng tích lũy được, kiến thức hiểu biết, cách cư xử và thái độ của một cá nhân áp dụng để hoàn thành công việc [35]. Một số học giả thì xem năng lực là sự kết hợp của kiến thức thực tế và lí thuyết, kỹ năng nhận thưc, hành vi và các giá trị được sử dụng để cải thiện hiệu suất [25], [26].
Tóm lại năng lực được sử dụng trong luận văn này là: “tất cả các đặc điểm, tính cách của một cá nhân, thể hiện ở kiến thức, kỹ năng và thái độ góp phần tạo nên kết quả công việc của người đó và đạt được mục tiêu của tổ chức”. Khái niệm chung về năng lực quản lý của ĐDTK, Như vậy, hiểu một cách khái quát nhất: năng lực quản lý là kiến thức và kỹ năng của cá nhân ở vị trí quản lý để hoàn thành hoạt động và nhiệm vụ cụ thể, Kiến thức và kỹ năng này có thể được học và rèn luyện. Vận dụng trong công tác ĐD thì năng lực quản lý của ĐD chính là toàn bộ kiến thức, kỹ năng, thái độ của người ĐD trưởng để làm cho tất cả ĐD (trong khoa/ bệnh viện) cùng nhau phối hợp làm việc; đồng thời sử dụng hiệu quả tất cả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Công cụ đo lường về năng lực quản lý của ĐDTK 1.
Trên thế giới Có nhiều cách tiếp cận và đánh giá năng lực của ĐDTK. Tổ chức quản lý ĐD Hoa Kỳ AONE (American Organization of Nurse Excutive) cho rằng: năng lực quản lý của ĐDTK được tạo nên bởi 5 nhóm tiêu chuẩn và 35 chỉ số đánh giá cụ thể như sau: - Giao tiếp và gây dựng các mối quan hệ (08 chỉ số) - Có kiến thức về lĩnh vực chăm sóc sức khỏe (11 chỉ số) - Khả năng lãnh đạo (5 chỉ số) - Có trình độ chuyên môn (06 chỉ số) - Kỹ năng điều hành hoạt động (05 chỉ số) [21], [19], Theo Hiệp hội ĐD Hoa Kỳ (ANA), ĐDTK có năng lực phải đạt tiêu chuẩn về 02 nhóm yếu tố: Nhóm các tiêu chuẩn về thực hành quản lý (06 năng lực) và nhóm các tiêu chuẩn hành nghề chuyên môn và quản lý ĐD (10 năng lực). Theo hiệp hội ĐD Thái Lan và hội đồng hộ sinh Thái Lan thì năng lực của một ĐDT được xác định là hành vi, là kết quả của việc sử dụng kiến thức và kỹ năng để đạt được thành công trong công việc bằng cách thực hành các năng lực cần thiết chung của ĐDTK. Khung năng lực đó bao gồm các nhóm: Lãnh đạo; Quản lý; Thực hành dựa trên bằng chứng; Giao tiếp; Chuyên nghiệp; Chất lượng; Cải tiến; Ứng dụng công nghệ thông tin và làm việc theo nhóm [33].
Nghiên cứu của Huijuan Ma MM và các cộng sự khi xác định các năng lực cần thiết của các nhà quản lý điều dưỡng trong quân đội cũng xác định theo 06 nhóm năng lực: chuyên môn lâm sàng; mô hình vai trò, năng lực lãnh đạo, năng lực con người, năng lực tài chính và năng lực triển khai [30]. Theo tác giả Chase thì năng lực ĐDTK được thể hiện ở 5 lĩnh vực với 53 tiêu chí cụ thể. Bộ công cụ được phát triển lần đầu năm 1994 và hoàn thiện lại trong nghiên cứu năm 2010 của chính tác giả. Bộ công cụ gồm 53 câu hỏi thuộc 5 lĩnh vực: kiến thức về môi trường chăm sóc sức khỏe (Kỹ thuật Chase), truyền thông và quản lý mối quan hệ (Con người Chase), chuyên nghiệp (Khái niệm Chase), lãnh đạo (Lãnh đạo 8 Chase), kỹ năng và nguyên tắc kinh doanh (Quản lý tài chính Chase) [21].
Tại Việt Nam Tới thời điểm hiện tại, Việt Nam đã có bộ Tiêu chuẩn năng lực dành cho ĐD viên. Trong bộ tiêu chuẩn này, chuẩn năng lực của điều dưỡng gồm 3 lĩnh vực: (1): năng lực thực hành chăm sóc; (2): năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp; (3): năng lực hành nghề theo pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Trong đó, “năng lực quản lý và phát triển nghề nghiệp” của ĐD gồm có 8 tiêu chuẩn sau: Quản lý, ghi chép và sử dụng hồ sơ bệnh án theo quy định (04 tiêu chí) Quản lý công tác chăm sóc người bệnh (05 tiêu chí) Quản lý, vận hành và sử dụng các trang thiết bị y tế có hiệu quả (03 tiêu chí) Sử dụng nguồn tài chính thích hợp để chăm sóc người bệnh hiệu quả (02 tiêu chí). Thiết lập môi trường làm việc an toàn và hiệu quả (06 tiêu chí) Cải tiến chất lượng chăm sóc và quản lý nguy cơ trong môi trường chăm sóc (09 tiêu chí) Nghiên cứu khoa học và thực hành dựa vào bằng chứng (06 tiêu chí), Duy trì và phát triển năng lực cho bản thân và đồng nghiệp (08 tiêu chí) [8].
Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này đang nằm chung trong khung năng lực của ĐD, chưa phải là khung đánh giá năng lực riêng của ĐDTK. Mặc dù vậy, trong quy định này, cũng có đề cấp tới 10 nhóm “năng lực” (phẩm chất) của Điều dưỡng trưởng cần có bao gồm: có tầm nhìn, đổi mới, tự tin, quyết đoán, chuyên môn giỏi, sử dụng nhân lực hiệu quả, hài hòa lợi ích, giao tiếp hiệu quả, công bằng và lịch thiệp. Thách thức trong việc đánh giá năng lực ĐDTK hiện nay Chính phủ thỏa thuận khung công nhận văn bằng và dịch vụ điều dưỡng trong khối ASEAN mở ra cơ hội chuẩn hóa, nâng cao trình độ và năng lực của điều dưỡng Việt Nam tương đương với điều dưỡng khu vực và quốc tế, mở ra cơ hội hòa nhập cho ngành điều dưỡng nước nhà, trong đó có lực lượng điều dưỡng quản lý, nhất là ĐDTK. Tác giả Kart cho rằng ở mức độ quản lý thấp, năng lực kỹ thuật là cần thiết 9 nhất và khi người quản lý điều dưỡng phát triển qua giai đoạn thao tác thực tế thì nhu cầu về kỹ năng giảm đi.