Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ VÀ NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO CỦA CÁN BỘ ĐOÀN 1. KHÁI QUÁT NHỮNG LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ 1. Một số lý thuyết cơ bản về lãnh đạo 1. Lý thuyết Vĩ nhân (Great man) và lý thuyết Đặc điểm nhân cách (Trait Theory) Khi xem xét “hiện tượng lãnh đạo”, về mặt tư duy logic chúng ta thường nghĩ ngay đến người lãnh đạo.
Rõ ràng, không phải ai cũng có thể làm người lãnh đạo, không phải ai cũng có khả năng khiến cho người khác nghe theo mình, tin theo mình, làm theo mình. Phải chăng nhà lãnh đạo có những đặc điểm khác với những người không lãnh đạo? Việc tìm kiếm những đặc điểm hay tính cách của nhà lãnh đạo đã được tiến hành liên tục trong nhiều thế kỷ. Những quan điểm đầu tiên về phẩm chất (đặc điểm cá nhân) đã xuất hiện từ thế kỷ thứ V trước công nguyên. Nổi bật như Geraclit, Parmenhit, Hypocrat,… các ông đã nghiên cứu “sự khác biệt cá nhân của con người và sự biến đổi hoạt động tâm lý nói chung của những người đóng vai trò lãnh đạo”.
Từ tác phẩm “Nền Cộng hòa”của nhà triết học nổi tiếng Plato cho đến tác phẩm “Cuộc đời”của Plutarch, cả hai ông đều đưa ra câu hỏi "Những phẩm chất gì phân biệt một cá nhân như là một nhà lãnh đạo?". Những tìm kiếm này cho thấy đã có sự nhận thức sớm về tầm quan trọng của lãnh đạo và giả định rằng lãnh đạo là bắt nguồn từ những đặc điểm mà một số cá nhân sở hữu. Nếu xem xét Khoa học lãnh đạo là ngành khoa học nghiên cứu về hiện tượng lãnh đạo - một hiện tượng phổ biến của loài người thì Lý thuyết Đặc điểm cá nhân trong lãnh đạo (Trait Theory of Leadership) là cách tiếp cận đầu tiên về hiện tượng lãnh đạo. Có thể khái quát Lý thuyết về đặc điểm cá nhân trong lãnh đạo được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn Lý thuyết Vĩ 10 nhân và Giai đoạn Lý thuyết Đặc điểm Cá nhân.
Trong giai đoạn lý thuyết Vĩ nhân, các nhà nghiên cứu tập trung chú ý vào các vĩ nhân trong lịch sử thế giới như Hoàng đế nước Pháp Napoleon, Tổng thống Mỹ Lincoln và Thánh Gandhi của Ấn Độ… ở họ đều có chung các đặc điểm lãnh đạo (leadership traits) ổn định và bền vững làm cho họ khác biệt với những người ủng hộ họ. Qua việc nghiên cứu những vĩ nhân, các nhà nghiên cứu đã đưa ra gợi ý rằng một người nào đó nếu bắt chước các phẩm chất và hành vi cá nhân của các vĩ nhân đó thì có thể trở thành một người lãnh đạo giỏi (Thomas Carlyle 1841; Galton 1869; Borgotta, Rouch and Bales 1954). Trong tác phẩm Heroes and Hero Worship (1841), Thomas Carlyle đã chỉ ra những phẩm chất như tài năng, kỹ năng và các đặc điểm hình thể của những người đàn ông mà họ giữ vị trí quyền lực. Galton trong Hereditary Genius (1869) đã kiểm tra những phẩm chất lãnh đạo ở những gia đình có những người người nắm giữ các vị trí quyền lực.
Sau khi chỉ ra một số người kiệt xuất từ thế hệ đầu tiên đến các thế hệ kế tiếp, Galton rút ra kết luận lãnh đạo dựa trên sự thừa kế. Nói cách khác, các nhà lãnh đạo được sinh ra, chứ không phải được hình thành và phát triển. Có thể thấy các nghiên cứu trên đều ủng hộ quan điểm lãnh đạo được bắt nguồn từ những đặc điểm của nhà lãnh đạo. Trong nhiều thập kỷ tiếp theo, cách tiếp cận dựa trên đặc điểm cá nhân này đã chi phối các công trình lý luận và thực nghiệm trong lãnh đạo.
Các nhà nghiên cứu đã tiến hành khảo sát hàng trăm công trình nghiên cứu từ đó đưa ra số đặc điểm điển hình có thể phân biệt giữa nhà lãnh đạo với những người không phải là lãnh đạo. Nổi bật là các công trình nghiên cứu cuối những năm 1940 và đầu những năm 1950 của các tác giả Bird, 1940; Stogdill, 1948; và Mann, 1959 đã tổng hợp một loạt các nghiên cứu về phẩm chất để phát hiện ra những điểm mạnh khác nhau của các nhà lãnh đạo. Năm 1948, Stogdill đã 11 tổng kết 124 công trình về lãnh đạo theo phẩm chất trong thời kỳ từ 1904 - 1948, ông đã nhận thấy có những phẩm chất lặp đi lặp lại ở nhiều nghiên cứu khác nhau có tương quan chặt chẽ với việc thực hiện vai trò của người lãnh đạo bao gồm: - Sự thông minh. - Hiểu biết nhu cầu của người khác.
- Hiểu biết nhiệm vụ. - Chủ động và kiên trì trong giải quyết các vấn đề. - Mong muốn có trách nhiệm. - Mong muốn nắm giữ vị trí thống trị và kiểm soát.
Trong các nghiên cứu thực nghiệm của mình, Stogdill thấy rằng tầm quan trọng của các phẩm chất này là rất khác nhau trong những tình huống khác nhau và tầm quan trọng của các phẩm chất là bị phụ thuộc vào các tình huống. Khi nghiên cứu quan hệ của từng phẩm chất riêng rẽ với sự thành công, Stogdill cho rằng từng phẩm chất một có tương quan yếu hoặc không có tương quan với sự thành công nhưng một nhóm các phẩm chất thì có tương quan rất chặt với sự thành công. Như vậy, các nghiên cứu đã ủng hộ với những giả định cơ bản của cách tiếp cận theo phẩm chất là con người phải có được những phẩm chất đặc biệt để có thể trở thành người lãnh đạo thành công. Tuy vậy, Stogdill cũng thấy rằng các phẩm chất này không phải là điều kiện cần và đủ để đảm bảo cho sự thành công.
Vì thực tế đã có nhiều nhà lãnh đạo có các phẩm chất trên song vẫn không thành công, ngược lại, có những nhà lãnh đạo ít hoặc không có các phẩm chất trên lại rất thành công. Hoặc một người lãnh đạo với một số phẩm chất nào đó có thể thành công trong những điều kiện này nhưng lại không thành công trong những điều kiện khác. Hơn nữa hai nhà lãnh đạo với những phẩm chất khác nhau nhưng lại cùng thành công trong những điều kiện giống nhau. 12 Những kết luận trên đây của Stogdill đã làm nản lòng các nhà nghiên cứu tiếp cận theo lý thuyết đặc điểm cá nhân.
Tuy nhiên, sau thế chiến thứ hai toàn thế giới bước vào giai đoạn phục hồi các nền kinh tế và quá trình công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ đòi hỏi phải tuyển lựa, bố trí và đào tạo những người lãnh đạo cho các xí nghiệp công nghiệp đang phát triển nhanh chóng trên toàn thế giới. Đồng thời do sự phát triển tiến bộ của khoa học tâm lý trong việc phát triển các kỹ thuật, phương pháp nghiên cứu nên các nhà tâm lý học công nghiệp đã tiếp tục đi theo cách tiếp cận phẩm chất nhằm đáp ứng cho nhu cầu của việc tuyển lựa và đào tạo những nhà lãnh đạo. Tổng kết lần thứ 2 của Stogdill năm 1974, trên cơ sở nghiên cứu 163 đề tài về phẩm chất và kỹ năng của người lãnh đạo trong thời kỳ 1949 - 1970,Stogdill đã thấy phần lớn các phẩm chất được chỉ ra trong các nghiên cứu trước đây được lặp lại và một số phẩm chất và kỹ năng này được thể hiện qua bảng 1 sau: PHẨM CHẤT KỸ NĂNG - Thích ứng - Tài giỏi, thông minh - Am hiểu môi trường xã hội - Nhận thức - Tham vọng và định hướng thành tựu - Sáng tạo - Quyết đoán - Ngoại giao và lịch thiệp - Có tinh thần hợp tác - Diễn đạt thông tin - Kiên quyết - Có khả năng hiểu biết về nhiệm vụ của nhóm - Đáng tin cậy - Kỹ năng tổ chức - Thống trị (có nhu cầu cao trong việc ảnh - Kỹ năng thuyết phục hưởng và kiểm soát người khác) - Xông xáo - Kỹ năng xã hội - Kiên trì - Tự tin - Chịu được sự căng thẳng - Sẵn lòng nhận trách nhiệm 13 Ngoài các tổng kết của Stogdill, thì có thể thấy còn một số nhà nghiên cứu tiêu biểu đại diện cho cách tiếp cận này là Mann, McCall, Lombado, Boyatzis, Miner và Mc Clelland.Mann (1959) tiến hành một nghiên cứu tương tự kiểm tra hơn 1400 phát hiện liên quan đến tính cách và sự lãnh đạo trong các nhóm nhỏ, nhưng các ông ít chú trọng vào yếu tố tình huống ảnh hưởng như thế nào đến lãnh đạo. Năm 1983, McCall và Lombado tại Trung tâm lãnh đạo sáng tạo đã nỗ lực nhận dạng các phẩm chất và các hành vi có liên quan tới sự thành công hoặc thất bại của các nhà quản trị cấp cao.
Những cuộc khảo sát được tiến hành nhằm so sánh giữa những nhà quản trị được thăng tiến lên cấp trung gian và cấp cao trong tổ chức một cách thành công với những nhà quản trị bị sa thải hoặc được về hưu non nhằm tìm ra những điểm tương đồng và những điểm khác biệt giữa hai nhóm lãnh đạo này. Kết quả của việc so sánh này được thể hiện qua bảng dưới đây: Những Người lãnh đạo thành công Người lãnh đạo không thành công phẩm chất - Điềm tĩnh. - Không có khả năng làm chủ được sự Sự ổn định - Tự tin. căng thẳng.
về cảm xúc - Có thể dự đoán trong thời - Hay giận dữ, có hành vi không phù hợp. kỳ khủng hoảng. - Phá vỡ quan hệ con người. - Dám nhận lỗi.
- Phòng thủ để không rơi vào thất bại. - Dám nhận trách nhiệm. - Phản ứng bẳng việc che đậy các sai lầm. Sự phòng - Tích cực thực hiện các - Thường hay đổ lỗi cho người khác.
thủ hành động để giải quyết vấn đề. - Yếu kém trong quan hệ. Kỹ năng - Quan tâm đến những - Nồng nhiệt khi họ muốn, nhưng khi con người người khác. không muốn thì trở nên ích kỷ, thực - Lịch thiệp.
dụng và không tế nhị. - Có kinh nghiệm rộng lớn - Kỹ năng kỹ thuật thường là nguyên trên các chức năng, các nhân thành công của họ khi ở cấp thấp. Kỹ năng kỹ tình huống khác nhau. Điều này dẫn tới sự tự phụ.
thuật và kỹ - Khi lên cấp cao họ thường từ chối năng nhận những đề nghị tốt, loại trừ những người thức có trình độ. - Kiểm soát chặt chẽ những người có 14 trình độ, có khả năng. - Do thăng tiến quá nhanh nên không đủ thời gian để học những kỹ năng quản lý, nhận thức. Trong giữa thập niên 80 của thế kỷ XX Lord và các cộng sự (1986) có nhiều công trình nghiên cứu về lãnh đạo trong đó, ông đã đánh giá lại việc tìm kiếm của Mann (năm 1959) bằng cách sử dụng một thủ tục phức tạp hơn gọi là phân tích “Meta”.