phần mở đầu, kết luận, dang mục các bảng biểu, danh mục chữ viết tắt, mục lục, và tài liệu tham khảo, bố cục khóa luận sẽ đƣợc chia làm ba phần nhƣ sau: Chƣơng I: Lý luận chung Chƣơng II: Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp bảo hiểm và vận tải biển trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Chƣơng III: Một số kiến nghị và giải pháp để nâng cao năng lực cạnh tranh của dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Do thời gian nghiên cứu và trình độ còn hạn chế nên khóa luận không tránh khỏi có những hạn chế và sai sót. Tác giả mong sẽ nhận đƣợc ý kiến đóng góp của thầy cô giáo.
Trong quá trình nghiên cứu, em xin gửi lời cảm ơn chân thành đến nhà trƣờng và các cơ quan tổ chức ban ngành đặc biệt là cô giáo hƣớng dẫn T.S Đỗ Hƣơng Lan đã giúp đỡ và hƣớng dẫn em hoàn thành khóa luận này. Tác giả Cao Văn Dũng 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG I. DỊCH VỤ VÀ THƢƠNG MẠI DỊCH VỤ QUỐC TẾ 1. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ Trong vài năm qua Việt Nam đang tích cực đẩy nhanh tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong nhiều lĩnh vực quan trọng nhƣ thƣơng mại, đầu tƣ, an ninh quốc phòng và văn hóa xã hội.
Việt Nam đang là một thành viên tích cực trong hiệp hội quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), ký hiệp định song phƣơng (BTA) với Hoa Kỳ và gần đây vào 07/11/2006 chúng ta đã gia nhập tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO). Việc Việt Nam chủ động hội nhập trên nhiều lĩnh vực nhƣ vậy đặc biệt là lĩnh vực thƣơng mại dịch vụ đã đem lại nhiều lợi ích cho sự phát triển của nền kinh tế quốc gia. Thƣơng mại dịch vụ đang ngày một trở nên phổ biến và đóng góp tỷ trọng lớn cho GDP, là xu hƣớng phát triển nhanh và mạnh của những nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam. Vì thế đƣa ra một khái niệm dịch vụ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ dịch vụ có bản chất nhƣ thế nào và sẽ đƣa lại lợi ích gì cho đất nƣớc nói chung và các doanh nghiệp nói riêng trên con đƣờng hội nhập vào nền kinh tế quốc tế.
Hiện nay chúng ta vẫn chƣa có một định nghĩa chính thức về dịch vụ nói chung đƣợc chấp nhận rộng rãi trên phạm vi toàn cầu. Chính tính vô hình của dịch vụ cũng nhƣ sự đa dạng và phức tạp của nó làm cho chúng ta càng gặp nhiều khó khăn hơn trong việc định nghĩa dịch vụ. Hơn nữa trình độ phát triển của mỗi quốc gia lại không giống nhau làm cho cách hiểu về dịch vụ lại càng khác nhau. Dịch vụ theo các nhìn nhận của Các Mác là con đẻ của sản xuất hàng hóa.
Khi nền kinh tế phát triển tất yếu đòi hỏi sự lƣu thông hàng hóa trôi chảy, liên tục; nó chính là cầu nối của các nhà sản xuất với nhau, giữa nhà sản xuất và ngƣờii tiêu dùng. Vì vậy để thỏa mã nhu cầu ngày càng cao của con ngƣời thì dịch vụ đã ra đời cà phát triển. Nhƣ vậy dƣới góc độ kinh tế, Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ chính là nền sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên khi xã hội loài ngƣời ngày một phát triển, đặc biệt là với sự tiếp sức của cuộc cách mạng kĩ thuật 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ lần thứ II và ngày nay con ngƣời cũng dang trải qua một cuộc cách mạng công nghệ thông tin thì ngành dịch vụ mới đã ra đời, phát triển đa dạng và phức tạp khiến cho nguồn gốc hàng hóa của dịch vụ đang bị che dấu.
Hiện nay dịch vụ đang có nhiều cách hiểu. Theo nghĩa rộng thì dịch vụ đƣợc coi là một nền kinh tế thứ ban, nghĩa là tất cả các hoạt động kinh tế nằm ngoài hai ngành công nghiệp và nông nghiệp thì đều đƣợc coi là dịch vụ. Đây đƣợc coi là cách hiểu của Việt Nam đƣợc thể hiện rõ rệt khi nhà nƣớc ta phân ngành kinh tế vào năm 1993. Theo nghĩa hẹp hơn thì dịch vụ chính là phần mềm của sản phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trƣớc, trong và sau khi bán.
Định nghĩa này phản ánh nguồn gốc của dịch vụ là nền sản xuất hàng hóa. Qua đó dịch vụ trở thành sản phẩm phụ cho hàng hóa, bổ sung giá trị cho hàng hóa và thúc đẩy việc tiêu dùng hàng hóa. Nếu hiểu theo cách đó thì vai trò dịch vụ trong nền kinh tế quốc dân lại trở nên nhỏ bé và không phản ánh hết tất cả các khía cạnh cũng nhƣ vị trí của ngành dịch vụ. Bên cạnh đó dịch vụ còn đƣợc hiểu là toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dƣới dạng vật chất.
Dịch vụ là một công việc mà kết quả của nó là đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng bằng các hoạt động tiếp xúc giữa ngƣời cung cấp, khách hàng và các hoạt động nội bộ của ngƣời cung cấp. Cách hiểu này khá phổ biến và phản ánh trạng thái vô hình, phi vật chất của dịch vụ. Từ những định nghĩa trên, chúng ta có thể thấy dịch vụ là một ngành kinh tế, có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra các sản phẩm không tồn tại dƣới hình dạng vật chất mà việc cung cấp và tiêu thụ các sản phẩm và cung cấp không thể tách rời nhau nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con ngƣời. Mặc dù có những định nghĩa khác nhau về dịch vụ nhƣng nhìn chung dịch vụ có những đặc tính chủ yếu sau: Quá trình tạo ra các dịch vụ phức tạp hơn so với quá trình tạo ra các sản phẩm hàng hóa do đặc tính vô hình của dịch vụ.
Vì vậy dịch vụ rất khó tiêu chuẩn hóa và đánh giá bằng cách lƣợng hóa. Dịch vụ đƣợc tiến hàng khi có sự tiếp xúc giữa ngƣời mua và ngƣời bán hay nói cách khác quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời. Mức độ tiếp xúc này có sự khác biệt đối với những loại hình dịch vụ khác nhau. Ngày nay với sự 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ tiến bộ của công nghệ thông tin thì mức độ tiếp xúc trực tiếp ngày càng giảm.
Đây chính là cơ sở để xem xét vấn đề dịch vụ thƣơng mại và tự do hóa thuơng mại trên thế giới. Dịch vụ không thể lƣu trữ đuợc và những sai sót của nó khó có thể khắc phục ngay đƣợc. Đặc điểm này của dịch vụ chính là hệ quả của hai đặc điểm trên. Dịch vụ bảo hiểm và vận tải biển 1.
Dịch vụ bảo hiểm Bảo hiểm là một sự thoả thuận hợp pháp, do các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành nhận trách nhiệm trƣớc rủi ro và bồi thƣờng, trả tiền bảo hiểm cho ngƣời đƣợc bảo hiêm hoặc trả tiền bảo hiểm cho ngƣời thụ hƣởng bảo hiểm khi xảy ra rủi ro đƣợc bảo hiểm với điều kiện ngƣời kia ký kết hợp đồng và chấp nhận đóng góp một khoản phí nhất định cho chính anh ta hoặc ngƣời thứ ba để đổi lấy cam kết về những khoản bồi thƣờng hoặc chỉ trả khi có sự kiện quy định trong hợp đồng xảy ra. Ngƣời bảo hiểm thƣờng căn cứ vào yếu tố rủi ro để giới hạn phạm vi trách nhiệm của mình trong hợp đồng bảo hiểm. Trong hợp đồng bảo hiểm, ngƣời tham gia bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí, ngƣời bảo hiểm giải quyết bồi thƣờng trong trƣờng hợp xảy ra tổn thất. Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông cho bất hạnh của số ít.
Bảo hiểm là việc trả tiền để đôi cái không chắc thành cái chắc chắn. Do nhu cầu của con ngƣời và của sản xuất kinh doanh mà hoạt động bảo hiểm ra đời và ngày càng phát triển theo mức sống ngày càng cao của con ngƣời, theo đà phát triển của sản xuất kinh doanh và sự mở rộng giao lƣu kinh tế giữa các nƣớc, các khu vực a. Các khái niệm cơ bản trong bảo hiểm Những rủi ro đƣợc nhắc đến trong định nghiã trên là thuật ngữ đƣợc dùng để chỉ đến khả năng xảy ra một biến cố bất thƣờng với hậu quả thiệt hại hoặc đem lại kết quả không mong muốn. Ngƣời bảo hiểm chỉ nhận trách nhiệm trƣớc những rủi ro thoả mãn những tiêu chuẩn nhất định.
Đối tƣợng bảo hiểm là phạm trù mà rủi ro có thể tác động trực tiếp vào và chính để đảm bảo quyền lợi về tài chính của đối tƣợng bảo hiểm trƣớc những rủi ro mà ngƣời đƣợc bảo hiểm đã quyết định giao kết một hợp đồng bảo hiểm. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năng lực cạnh tranh của một số ngành dịch vụ Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế trong lĩnh vực thương mại dịch vụ Giá trị bảo hiểm là giá trị bằng tiển của đối tƣợng bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng và thƣờng đƣợc dùng trong bảo hiểm tài sản còn số tiền bảo hiểm là khoản tiền nhất định ghi trong đơn bảo hiểm hoặc giấy chứng nhận bảo hiểm để xác định giới hạn trách nhiệm trong bồi thƣờng hoặc trả tiền bảo hiểm. Phí bảo hiểm : là khoản tiển mà ngƣời tham gia bảo hiểm phải trả để nhận đƣợc sự bảo đảm trƣớc các rủi ro đã đƣợc ngƣời bảo hiểm chấp nhận Bồi thƣờng, trả tiền bảo hiểm Bồi thƣờng bảo hiểm : là việc ngƣời bảo hiểm thực hiện cam kết của hợp đồng, chi trả một khoản tiền nhất định nhằm đền bù cho ngƣời đƣợc bảo hiểm khi có thiệt hại vật chất xảy ra. Trả tiền bảo hiểm : là việc ngƣời bảo hiểm thực hiện cam kết trả một khoản tiền nhất định theo qui định trong hợp đồng b.