Giải pháp nâng cao vị thế của ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Khám phá giải pháp nâng cao vị thế ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, thúc đẩy phát triển bền vững và cạnh tranh.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Chuyên ngành

Kinh doanh quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

86
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

1.1. TỔNG QUAN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

1.2. Cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị

1.3. Cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu

1.4. CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU NGÀNH CHẤT DẺO

1.5. Khái niệm và đặc điểm của chuỗi giá trị toàn cầu ngành chất dẻo

1.6. Các thành phần tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ngành chất dẻo

1.7. VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

1.8. Định nghĩa vị thế cạnh tranh

1.9. Ý nghĩa của vị thế cạnh tranh

1.10. Các tiêu chí đánh giá vị thế của ngành chất dẻo trong chuỗi giá trị toàn cầu

1.11. CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

1.12. Các nhân tố bên trong

1.13. Các nhân tố bên ngoài

1.14. TÓM TẮT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

2.1. THỰC TRẠNG CỦA CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU NGÀNH CHẤT DẺO THẾ GIỚI

2.2. Khái quát lịch sử hình thành

2.3. Quy mô hiện tại của ngành nhựa thế giới

2.4. THỰC TRẠNG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM

2.5. Lịch sử ngành chất dẻo Việt Nam

2.6. Quy mô hiện tại của ngành chất dẻo Việt Nam

2.7. Chuỗi giá trị của ngành chất dẻo tại Việt Nam

2.8. Tình hình xuất khẩu của Việt Nam

2.9. THỰC TRẠNG VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

2.10. Phân khúc thượng nguồn

2.11. Phân khúc hạ nguồn

2.12. ĐÁNH GIÁ VỊ TRÍ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

2.13. Những thành tựu đã đạt được

2.14. Hạn chế và nguyên nhân

2.15. TÓM TẮT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

3.1. CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

3.2. Xu hướng phát triển của ngành chất dẻo thế giới đến năm 2023

3.3. Xu hướng phát triển của ngành chất dẻo Việt Nam đến năm 2023

3.4. Cơ hội và thách thức đối với vị thế của ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

3.5. GIẢI PHÁP NÂNG CAO VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO VIỆT NAM TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

3.6. Đầu tư, phát triển phân khúc thượng nguồn để cung ứng nguyên liệu đầu vào và tạo thế chủ động về nguyên liệu

3.7. Xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, công nghệ kỹ thuật để phục vụ cho việc sản xuất làm tăng sự đa dạng của sản phẩm đầu ra

3.8. Nâng cao nhận thức đối với việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ngành chất dẻo và hiểu rõ các quy định thuộc các Hiệp định thương mại đã ký kết

3.9. CÁC KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT CHO CÁC DOANH NGHIỆP VÀ CHÍNH PHỦ

3.9.1. Đối với các doanh nghiệp

3.9.2. Đối với chính phủ

3.10. TÓM TẮT CHƯƠNG 3

KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Ngành chất dẻo Việt Nam đang ngày càng khẳng định vị thế của mình trong chuỗi giá trị toàn cầu. Với sự phát triển mạnh mẽ, ngành này không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn mở rộng ra thị trường quốc tế. Theo báo cáo của VIRAC (2021), ngành chất dẻo đã có sự tăng trưởng đáng kể, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch Covid-19. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của ngành trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.

1.1. Đặc điểm nổi bật của ngành chất dẻo Việt Nam

Ngành chất dẻo Việt Nam có nhiều đặc điểm nổi bật như sự đa dạng về sản phẩm và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường. Sự phát triển của ngành này không chỉ dựa vào nguồn nguyên liệu phong phú mà còn nhờ vào sự đầu tư công nghệ hiện đại.

1.2. Xu hướng phát triển của ngành chất dẻo toàn cầu

Ngành chất dẻo toàn cầu đang chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ với xu hướng chuyển dịch sang sản phẩm thân thiện với môi trường. Việt Nam cần nắm bắt xu hướng này để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.

II. Thách thức đối với ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Mặc dù ngành chất dẻo Việt Nam có nhiều tiềm năng, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức. Các vấn đề như phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, công nghệ lạc hậu và năng lực cạnh tranh còn hạn chế đang cản trở sự phát triển của ngành. Để nâng cao vị thế, cần có những giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những khó khăn này.

2.1. Vấn đề phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu

Hiện tại, khoảng 85% nguyên liệu sản xuất ngành chất dẻo Việt Nam vẫn phải nhập khẩu. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngành trên thị trường quốc tế.

2.2. Công nghệ sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu

Nhiều doanh nghiệp trong ngành chất dẻo Việt Nam vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu, dẫn đến năng suất thấp và chất lượng sản phẩm không ổn định. Cần đầu tư vào công nghệ mới để cải thiện tình hình này.

III. Giải pháp nâng cao vị thế ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Để nâng cao vị thế của ngành chất dẻo Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tư vào công nghệ, phát triển nguồn nguyên liệu nội địa và nâng cao nhận thức về chuỗi giá trị toàn cầu là những yếu tố then chốt.

3.1. Đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại

Việc đầu tư vào công nghệ mới sẽ giúp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp cần tìm kiếm các giải pháp công nghệ tiên tiến để cải thiện quy trình sản xuất.

3.2. Phát triển nguồn nguyên liệu nội địa

Tăng cường sản xuất nguyên liệu trong nước sẽ giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Điều này không chỉ tiết kiệm chi phí mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu ngành chất dẻo Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy ngành chất dẻo Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Các doanh nghiệp đã bắt đầu áp dụng các giải pháp mới và đạt được những kết quả tích cực trong sản xuất và xuất khẩu.

4.1. Kết quả từ việc áp dụng công nghệ mới

Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại, giúp tăng năng suất và giảm chi phí. Điều này đã tạo ra lợi thế cạnh tranh cho ngành chất dẻo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

4.2. Tình hình xuất khẩu ngành chất dẻo

Ngành chất dẻo Việt Nam đã ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu, đặc biệt là trong các sản phẩm nhựa bao bì. Điều này cho thấy tiềm năng lớn của ngành trong việc mở rộng thị trường quốc tế.

V. Kết luận và tương lai của ngành chất dẻo Việt Nam

Ngành chất dẻo Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong chuỗi giá trị toàn cầu. Để phát triển bền vững, cần có những chiến lược rõ ràng và cụ thể nhằm nâng cao vị thế của ngành trong tương lai.

5.1. Tầm quan trọng của việc nâng cao vị thế

Nâng cao vị thế của ngành chất dẻo không chỉ giúp tăng trưởng kinh tế mà còn tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người lao động. Điều này sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

5.2. Xu hướng tương lai của ngành chất dẻo

Ngành chất dẻo Việt Nam cần tiếp tục đổi mới và phát triển để bắt kịp xu hướng toàn cầu. Việc áp dụng công nghệ xanh và sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ là xu hướng chính trong tương lai.

14/07/2025
Giải pháp nâng cao vị thế của ngành chất dẻo việt nam trong chuỗi giá trị toàn cầu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT TỔNG QUAN VỀ VỊ THẾ CỦA NGÀNH CHẤT DẺO TRONG CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. TỔNG QUAN VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU 1. Cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị 1. Định nghĩa chuỗi giá trị Chuỗi giá trị còn được gọi là chuỗi giá trị phân tích, đó là một khái niệm lần đầu được phát triển vào năm 1985 bởi Michael Porter trong cuốn sách “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”, ông đã đưa ra định nghĩa chuỗi giá trị như sau: “Chuỗi giá trị là chuỗi của các hoạt động của một công ty hoạt động trong một ngành cụ thể.

Sản phẩm trải qua tất cả các giai đoạn hoạt động của một công ty hoạt động một lĩnh vực nhất định. Sản phẩm đi qua tất cả các hoạt động của chuỗi theo thứ tự và tại mỗi hoạt động sản xuất thu được một số giá trị nào đó. Chuỗi các hoạt động mang lại sản phẩm nhiều giá trị gia tăng hơn tổng giá trị gia tăng của các hoạt động cộng lại”. Theo định nghĩa của Michael Porter, chuỗi giá trị được thể hiện cơ bản dưới hoạt động của một doanh nghiệp.

Trong đó, bằng việc trải qua các giai đoạn theo trình tự, sản phẩm được tạo ra một giá trị nào đó. Ngoài ra cũng có những nhà nghiên cứu khác định nghĩa về chuỗi giá trị. Theo quan điểm của Kaplinsky Rapheal (2002), chuỗi giá trị được thể hiện rằng: “Chuỗi giá trị là cả loạt những hoạt động cần thiết để biến một sản phẩm hoặc một dịch vụ từ lúc còn là khái niệm, thông qua các giai đoạn sản xuất khác nhau (bao gồm một kết hợp giữa sự biến đổi vật chất và đầu vào các dịch vụ sản xuất khác nhau), đến khi phân phối đến tay người tiêu dùng cuối cùng và vứt bỏ sau khi đã sử dụng”. Do đó có thể thấy rằng, chuỗi giá trị theo quan điểm của Kaplins Rapheal không chỉ còn nằm trong giới hạn hoạt động của một công ty mà còn được mở rộng ra, vì vậy chuỗi giá trị là tất cả các hoạt động liên quan cần thiết, các hoạt động này được thực hiện ở bất kỳ đâu, để đưa ra giá trị cuối cùng của sản phẩm dịch vụ.

Do đó, chúng ta có thể hiểu chuỗi giá trị theo cả nghĩa rộng lẫn nghĩa hẹp thông qua hai khái niệm trên. Đầu tiên, đối với nghĩa hẹp, chuỗi giá trị chỉ nằm trong khuôn khổ hoạt động của một doanh nghiệp cụ thể, bao gồm tất cả các hoạt động xuyên suốt của công ty đó để đưa sản phẩm từ ý tưởng đến thành phẩm cuối cùng. Thứ hai, đối với nghĩa rộng, vẫn là một dây chuyên hoạt động đó nhưng nó được mở rộng trên phạm vi không gian lớn hơn, với sự tham gia của nhiều thành phần hơn. Tuy nhiên nhìn chung, về bản chất, chuỗi giá trị vẫn là sự liên kế bổ sung giữa các giai đoạn khác nhau để tạo ra giá trị cuối cùng cho sản phẩm, cho dù hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp.

Các nhân tố hình thành chuỗi giá trị Đến hiện tại, định nghĩa về chuối giá trị của nhà nghiên cứu Michael Porter (1985) vẫn được sử dụng phổ biến, theo đó, các nhân tố tạo nên chuỗi giá trị được thể hiện theo mô hình sau: Sơ đồ 1 – Mô hình các nhân tố hình thành chuỗi giá trị (Nguồn: Michael Porter, 1985) Trong mô hình của nhà nghiên cứu Michael Porter, để tạo ra được giá trị cuối cùng, sản phẩm/dịch vụ phải trải qua các hoạt động sơ cấp (hoạt động chính) và cả những hoạt động phụ trợ (hoạt động hỗ trợ). Trong đó, các hoạt động chính bao gồm: Các hoạt động đầu vào (Inbound Logistics): là các hoạt động liên quan đến quá trình tiếp nhận nguyên vật liệu đầu vào, bao gồm việc thu mua và quản lý thu mua, di chuyển sản phẩm trong công ty, lưu trữ và quản lý lưu kho, kiểm soát số lượng và chất lượng,…Chuỗi giá trị có thể gia tăng trong các hoạt động này bằng việc cải thiện chất lượng nguyên vật liệu thô và tối thiểu hoá chi phí hoạt động đầu vào. Các hoạt động sản xuất: là những hoạt động nhằm thực hiện để biến đổi nguyên vật liệu đầu vào thành sản phẩm cuối cùng, trong quá trình thực hiện sản xuất sẽ bao gồm cả những công việc quản lý sản xuất,… Từ đó giá trị khách hàng được tăng lên nếu các hoạt động được thực hiện tốt, sản phẩm được sản xuất đúng cách và đáp ứng các tiêu chuẩn. Các hoạt động đầu ra (Outbound Logistics): là các hoạt động phân phối thành phẩm đến tay người mua được gọi là các hoạt động đầu ra.

Những hoạt động này bao gồm vận chuyển hàng hoá đến kho bãi tập trung, quản lý vận chuyển, quản lý kho,… Chuỗi giá trị gia tăng nếu các hoạt động đầu ra được thực hiện kịp thời với chi phí tối ưu và sản phẩm được giao cho khách hàng cuối cùng với chất lượng tốt nhất. Các hoạt động Marketing và bán hàng: là các hoạt động liên quan đến việc nghiên cứu thị trường, đưa ra các chiến lược quảng cáo phân phối phù hợp, cùng với đó là các hoạt động khuyến mãi, tặng thưởng,… Vì vậy, marketing và bán hàng cần được thực hiện đúng cách để xây dựng giá trị thương hiệu và việc bán hàng nên được thực hiện theo kênh thích hợp mà không có bất kỳ cam kết sai lầm nào được đưa cho khách hàng để tăng giá trị cho sản phẩm cuối cùng và thương hiệu. Các hoạt động dịch vụ: là những hoạt động được tiến hành sau khi sản phẩm đã được đưa đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Chúng bao gồm việc lắp đặt, bảo hành sửa chữa, các dịch vụ hậu mãi, quản lý phản hồi và chăm sóc khách hàng,… Chính vì vậy các hoạt động dịch vụ là quan trọng nhất vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc danh tiếng của sản phẩm.

Các hoạt động chính của chuỗi giá trị cần được thực hiện trơn tru để đưa ra giá trị cuối cùng tốt nhất của sản phẩm dịch vụ. Thêm vào đó, việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ cũng đóng góp một phần rất lớn cho việc này. Các hoạt động phụ trợ của chuỗi giá trị bao gồm: Quản trị nguồn nhân lực: là những hoạt động liên quan đến việc chiêu mộ, phỏng vấn, tuyển dụng, quản lý nhân lực để có thể đảm bảo được nguồn nhân lực của công ty ở trạng thái tốt và ổn định nhằm thực hiện các hoạt động của công ty một cách hiệu quả và trơn tru. Phát triển công nghệ: công nghệ đóng một vai trò rất quan trọng trong xu hướng phát triển của bất kỳ sản phẩm nào, do đó yếu tố công nghệ là một trong những nhân tố quyết định sự thành công của sản phẩm/dịch vụ khi được tung ra thị trường.

Các hoạt động phát triển công nghệ bao gồm nghiên cứu, sáng chế, thiết kế,… Phát triển công nghệ được thực hiện với mục tiêu tạo ra sản phẩm/dịch vụ tốt nhất phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng cuối cùng. Hoạt động mua sắm: là những hoạt động kiểm soát nguồn vốn đầu tư, việc thực hiện kiểm định và quản lý chất lượng nguyên vật liệu đầu vào. Cấu trúc hạ tầng (Năng lực quản trị): đây chính là các hoạt động thực hiện về việc hoạch định các chiến lược hoạt động cho doanh nghiệp, việc đưa ra các chính sách cho các kế hoạch tương lai cũng như các bước để hoàn thành các nhiệm vụ hiện tại. Đây cũng là một trong những khâu quan trọng đối với một doanh nghiệp trong việc thực hiện tốt công việc quản trị ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thành công của một công ty.

Nhìn chung, để hoạt động của doanh nghiệp được thực hiện một cách hiệu quả cũng như sản phẩm/dịch vụ cuối cùng có giá trị tốt nhất thì các doanh nghiệp cần kết hợp nhuần nhuyễn các hoạt động chính cũng như các hoạt động hỗ trợ của chuỗi giá trị. Cơ sở lý thuyết về chuỗi giá trị toàn cầu 1. Các quan điểm về chuỗi giá trị toàn cầu Đầu tiên, quan điểm về chuỗi giá trị của Michael Porter (1985) đã thể hiện được phần nào về chuỗi giá trị toàn cầu bằng việc chỉ ra chuỗi giá trị là chuỗi các hoạt động liên kết với nhau để tạo ra giá trị cuối cùng cho sản phẩm và dịch vụ. Theo Michael Porter chuỗi giá trị gồm năm hoạt động chính và các hoạt động phụ trợ.

Nhưng trong định nghĩa về chuỗi giá trị của ông chỉ đưa ra trong phạm vi của một doanh nghiệp nên không thể hiện được tính chất của chuỗi giá trị toàn cầu. Trong khi đó, những nhà nghiên cứu từ năm 2000 đặt nền móng cho khái niệm chuỗi giá trị toàn cầu đã chú ý đến một thuật ngữ được xây dựng dựa trên hiện tượng chuyên môn hoá theo chiều dọc đó là “giá trị gia tăng trong thương mại”. Những nghiên cứu dựa trên quan điểm “giá trị gia tăng trong thương mại” được thực hiện bởi các nhóm nghiên cứu như Hummels et al. (2001), Daudin et al.

Theo nhóm của các công trình nghiên cứu dựa trên quan điểm này đều dựa vào mô hình Input – Output (I – O). Tuy nhiên, mô hình này mới chỉ phác hoạ được một phần về chuỗi giá trị toàn cầu do nó chưa thể hiện được các bước sản xuất tối đa hoá hàm lượng ngoại nhập. Tiếp theo là hai nhà nghiên cứu Johson và Noguera (2012) thì tiếp cận về chuỗi giá trị bằng cách sử dụng chỉ số VAX (chỉ số gia tăng trên tổng kim ngạch xuất khẩu). Hai nhà nghiên cứu đã thể hiện quan điểm chuỗi giá trị toàn cầu theo hướng “giá trị gia tăng xuất khẩu”, khẳng định vai trò của sản xuất liên ngành liên quốc gia đóng góp vào giá trị sản phẩm cũng như giá trị xuất khẩu.

Một khái niệm nữa về chuỗi giá trị toàn cầu do Coe và Hass (2007) phát triển. Chuỗi giá trị toàn cầu Coe và Hass được định nghĩa là trình tự hoạt động chế xuất, sản xuất ra sản phẩm cho khách hàng cuối cùng, trong đó việc sản xuất gắn liền với mối quan hệ giữa các doanh nghiệp ví dụ như công ty trong với ngoài nước, công ty mẹ với công ty con, hoạt động thuê ngoài. Cuối cùng là quan điểm có sự tương đồng của Koopman et al. (2010) và OECD (2013): “Chuỗi giá trị toàn cầu là toàn bộ quá trình sản xuất hàng hóa, từ nguyên liệu thô cho tới thành phẩm, được thực hiện ở bất cứ nơi nào mà kỹ năng và nguyên liệu cần thiết để sản xuất đều có sẵn tại mức giá cả cạnh tranh cũng như đảm bảo chất lượng thành phẩm”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ