Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA ỨNG XỬ CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về văn hóa ứng xử. Cảm hóa, khoan dung, độ lượng là một trong những đặc điểm trong VHƯX của Người. Thái độ yêu thương, quý mến, trân trọng con người được coi là nét chủ đạo trong triết lý nhân văn cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, văn hóa ứng xử của Người vừa ân cần, niềm nở, vừa thân ái gần gũi, khi sai sót thì nhắc nhở nhẹ nhàng hoặc phê bình kịp thời, nghiêm khắc mà vẫn khoan dung, độ lượng, lay động, cảm hóa lòng người.
Chính nhờ sự giản dị, tế nhị trong cách ứng xử đã làm cho tất cả mọi người, dù địa vị, thành phần xuất thân như thế nào chăng nữa, khi tiếp xúc với Người đều để lại trong lòng mình ấn tượng sâu sắc bằng sự nể trọng, chia sẻ, tôn vinh bởi sức cảm hóa cuốn hút từ chính đạo đức, nhân cách, phép ứng xử văn hóa của Người. Trong phép ứng xử, với sự tinh tế, lịch thiệp, Người đã quy tụ được các bậc sĩ phu yêu nước, những trí thức lớn rời bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý để phục vụ đất nước. Người đã thuyết phục cụ Bùi Bằng Đoàn, nguyên Thượng thư Bộ Hình làm Trưởng ban Thường vụ Quốc hội; cụ Phan Kế Toại, nguyên Khâm sai Bắc Kỳ, làm Phó Thủ tướng. Lường trước những khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp, Người đã thuyết phục một số nhà trí thức Việt kiều như: GS.
Trần Đại Nghĩa, GS. về nước phục vụ cho Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Người chỉ rõ: "Sông to, biển rộng thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng của nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng tràn đầy, vì độ lượng của nó hẹp và nhỏ.
Người mà tự kiêu, tự mãn cũng như cái chén, cái đĩa cạn". Người rất tin tưởng quý trọng nhân dân, nên trong giao tiếp ứng xử với dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ: "Đối với tất cả mọi người trong các tầng lớp dân chúng, ta phải có một thái độ mềm dẻo, khôn khéo, biết nhân nhượng, biết trân trọng nhân cách của người ta". Riêng đối với những người lầm đường, lạc lối hay đã từng cộng tác với bên kia 7 trận tuyến, Người yêu cầu: "Không nên đào bới những chuyện cũ ra làm án mới. Đối với những người không nguy hiểm lắm, thì nên dùng chính sách cảm hóa khoan dung".Vị Chủ tịch nước còn vậy, thử hỏi sao mỗi người chúng ta không học tập được một phần nhỏ nào trong cách ứng xử và nhân cách của Người? Ngày xưa, xã hội ta còn nghèo, mức sống vật chất thấp mà con người thương yêu nhau, chia sẻ và cảm thông cho nhau.
Khác với ngày nay, đời sống chung đã được cải thiện khá nhiều, nhưng phẩm chất đạo đức và lối sống của không ít người đã tha hóa, suy đồi dẫn đến nạn quan liêu, tham nhũng nặng nề đến nổi trở thành "quốc nạn". Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" mà Đảng và Nhà nước ta phát động và thực hiện, giá trị văn hóa ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống mãi với thời gian, là hành trang quý giá để Đảng và Nhà nước ta vận dụng chủ trương mở cửa hội nhập, "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước", để cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhất là thực hiện tự phê bình và phê bình, xây dựng VHƯX được hiện thực hóa trong cuộc sống, để con người đối với nhau, với xã hội, với đất nước tốt hơn, tử tế hơn, công bằng hơn và chính trực hơn. Tục ngữ có câu: "Lời chào cao hơn mâm cỗ", vậy mà có những người quen biết nhau, khi ra đường gặp nhau cố tình làm ngơ để khỏi chào hỏi, những thầy giáo, cô giáo, là những người được Đảng và Nhà nước ta giao trọng trách dạy dỗ học sinh những điều hay, lẽ phải để trở thành người tốt, người có ích cho xã hội, vậy mà ứng xử kém đến nỗi học sinh cúi đầu chào mà thầy giáo dửng dưng xem như không thấy, coi việc chào hỏi là nghĩa vụ của học sinh, còn mình là "bề trên" nên không cần chào lại. Đó là biểu hiện của thiếu lịch sự, ứng xử không có văn hóa.
Phép lịch sự dạy chúng ta tôn trọng người khác, bất kể người đó có tuổi tác, địa vị xã hội, nghề nghiệp, giới tính, tài sản, cuộc sống riêng tư của họ như thế nào đi nữa. Đó chính là một nghệ thuật sống tế nhị và ứng xử có văn hoá. Không những thế thực trạng văn hóa ứng xử đang ngày càng xuống cấp trầm trọng như hiện nay còn được biểu hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau, ở mọi lứa tuổi khác nhau, trong những môi trường khác nhau,… nhưng có lẽ môi trường học đường – nơi đào tạo nên những thế hệ trẻ tương lai lại đang tồn tại một thực trạng đáng buồn đó là văn hóa ứng xử của học sinh đang xuống cấp nghiêm trọng. 8 Vì vậy, khi nói đến vấn đề nghiên cứu VHƯX trong trường học, đã có rất ít đề tài nghiên cứu về VHƯX của HS cả THCS lẫn THPT.
Các đề tài này đã đề cập và đưa ra rất nhiều số liệu thống kê về thực trạng VHƯX thiếu chuẩn mực của các em. Một số đã đưa ra được các nguyên nhân, một số khác cũng có nhận định và đề xuất các giải pháp phòng chống, giảm thiểu thực trạng VHƯX đang ngày càng xuống cấp của HS. Nhìn chung các đề tài đã có những cách nhìn nhận và nhận xét riêng biệt của từng mảng khác nhau. Nhưng cũng chưa thực sự thống nhất tổng thể các nguyên nhân, giải pháp khắc phục và giảm thiểu tình trạng trên.
Dựa trên nghiên cứu lý thuyết nhóm chúng tôi nhận thấy PTS Lê Thị Bừng – cán bộ giảng dạy khoa Tâm lí – Giáo dục học trường Đại học sư phạm Hà Nội đã nghiên cứu về vấn đề VHƯX nhưng tác giả chỉ đề cập đến 2 nội dung chính là những vấn đề lí luận chung và nêu các tình huống, sự lựa chọn ứng xử trong quan hệ người – người, đề tài của tác giả chỉ dừng lại ở phạm vi lý thuyết. Trên cơ sở đó nhóm của chúng tôi sẽ mở rộng phạm vi nghiên cứu thực tiễn về VHƯX của HS THCS. Với đề tài của chúng tôi, tìm hiểu về “Thực trạng VHƯX của HS trường THCS trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương”. Tuy đề tài chỉ tìm hiểu trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương nhưng sẽ đánh giá tổng quát về VHƯX của HS THCS.
Đề tài này sẽ đưa ra nhận định về lứa tuổi có hành vi, lời nói, cách cư xử, trang phục,… thiếu chuẩn mực đạo đức từ đó đưa ra một số nguyên nhân và giải pháp khắc phục tốt nhất.2Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1.1 Khái niệm về văn hóa Xung quanh vấn đề khái niệm văn hóa có rất nhiều quan điểm khác nhau. Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả trình độ phát triển vật chất và tinh thần, hiểu theo nội dung bao gồm cả khoa học, kĩ thuật, giáo dục và văn hóa văn nghệ, văn hóa được đặt trong phạm vi nếp sống lối sống, đạo đức xã hội. Văn hóa là sự hiểu biết nhằm định hướng cho sự phát triển theo cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Văn hóa là một trong những bộ phận quan trọng cho sự phát triển lâu bền nhiều mặt của một dân tộc.
Văn hóa là một hiện tượng, một phạm trù thuộc về con người, do con người làm nên. Vì vậy, văn hóa là tiêu chuẩn, tiêu chí hiển nhiên phân biệt con người - động vật với con vật, làm cho con người tách khỏi thế giới thực tại khách quan xung quanh mình theo hai thế giới khác nhau mà gắn bó với nhau. Đó là thế giới biểu tượng, thế 9 giới ở bên cạnh, đằng sau của thế giới thực tại, một thế giới hết sức đặc thù nơi con người có tư duy. Thuật ngữ văn hóa (culture) được dùng khá phổ biến trong đời sống hiện nay song việc hiểu về nó thì mỗi nhà nghiên cứu, mỗi cá nhân lại có cách hiểu không hoàn toàn giống nhau.
Trên thế giới có trên 400 định nghĩa về văn hóa. Điều đó cho ta thấy sự phong phú, đa dạng và phức tạp của khái niệm này. Từ thế kỉ XIX, nhà nhân loại học người Anh Edward Burnett Tylor (1832 - 1917), trong tác phẩm Văn hóa nguyên thủy (1871) ông cho rằng: "Văn hóa là tổng thể phức hợp gồm kiến thức, đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và bất cứ khả năng tập quán nào mà con người thu nhận được với tư cách là một thành viên xã hội". Đến năm (1881), trong tác phẩm Nhân loại học ông khẳng định: "Văn hóa là hoàn toàn sở hữu của riêng loài người".
Quan niệm này đã được các nhà nhân loại học trên thế giới sử dụng suốt nửa thế kỉ. Đầu thế kỉ XX, nhà nhân loại học người Mỹ Edward Sapir (1884 - 1939), trong tác phẩm Lý thuyết văn hóa (1920) đã đưa ra định nghĩa: "Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống". Năm 1959, trong Bài tiểu luận khái niệm văn hóa, Lestie A.White cho rằng:" Vấn đề không phải ở chỗ văn hóa là thực hay là trừu tượng, mà vấn đề là bối cảnh những quan hệ của chúng với cộng đồng người, mà trong quan hệ của chúng với nhau". Bách khoa toàn thư Liên Xô quan niệm: "Khái niệm văn hóa dùng để chỉ trình độ phát triển về vật chất và tinh thần của xã hội, dân tộc, bộ lạc cụ thể - văn hóa cổ, văn hóa Maya, văn hóa Trung Quốc.
Theo nghĩa hẹp, văn hóa chỉ liên quan đến đời sống tinh thần của con người". Thế nhưng Từ điển Triết học Xô Viết (1983) coi: "Văn hóa là tổng thể những thành tựu và những quá trình hoạt động của con người, được thể hiện bằng những giá trị vật chất và tinh thần xã hội".